Loading presentation...

Present Remotely

Send the link below via email or IM

Copy

Present to your audience

Start remote presentation

  • Invited audience members will follow you as you navigate and present
  • People invited to a presentation do not need a Prezi account
  • This link expires 10 minutes after you close the presentation
  • A maximum of 30 users can follow your presentation
  • Learn more about this feature in our knowledge base article

Do you really want to delete this prezi?

Neither you, nor the coeditors you shared it with will be able to recover it again.

DeleteCancel

Nhận thức là gì? Con người có khả năng nhận thức được thế gi

No description
by

Minh Thành

on 28 November 2014

Comments (0)

Please log in to add your comment.

Report abuse

Transcript of Nhận thức là gì? Con người có khả năng nhận thức được thế gi

II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Nhóm 8

- Nhận thức là gì?

- Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không?

Câu hỏi này đã nhiều lần được đặt ra và cũng đã có nhiều đáp án để lí giải. Có thể nói, nhận thức hiện tại khách quan là một quá trình hết sức phức tạp. Vấn đề tìm ra một con đường nhận thức đúng đắn được đặt ra một cách thiết thực. Và chuyên đề hôm được đặt ra để chúng ta đi sâu vào tìm hiểu:
“Con đường biện chứng của quá trình nhận thức”
.
Bốn là, coi thực tiễn là cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức; là động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lí.
B. THỰC TIỄN LÀ GÌ VÀ CÓ VAI TRÒ NHƯ THẾ NÀO TRONG QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC.
Thực tiễn là những hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội. Thực tiễn đóng vai trò là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn của chân lí, kiểm tra tính chân lí của quá trình nhận thức.
Thực tiễn là cái xác định một cách thực tế liên hệ giữa sự vật với những điều cần thiết đối với con người. Thực tiễn với bản chất là hoạt động vật chất trong đó chủ thể với tính tích cực sáng tạo chủ động là biến đổi khách thể.
Sự hình thành, phát triển của nhận thức là bắt nguồn từ thực tiễn, do yêu cầu của thực tiễn. Điều đó cũng nói lên rằng, nhận thức chỉ hoàn thành chức năng của mình khi nó trở về chỉ đạo hoạt động thực tiễn, giúp cho hoạt động thực tiễn có hiệu quả hơn.
Tóm lại: Thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức, là tiêu chuẩn của chân lý. Đây là quan điểm hết sức quan trong của lý luận duy vật biện chứng, Lênin viết : “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận nhận thức”. Vì thế chúng ta cần phải hiểu thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý một cách biện chứng; tiêu chuẩn này vừa có tính tuyệt đối, vừa có tính tương đối.
Nghiên cứu lý luận phải liên hệ thực tiễn. Nếu rời xa thực tiễn sẽ dẫn đế các sai lầm của bệnh chủ quan, giáo điều, máy móc, quan liêu.
- Quan điểm của I.Lênin
về con đường biện chứng của nhận thức chân lý.
Nhận thức cảm tính

là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức. Nó phản ánh những mặt, những thuộc tính riêng lẻ bên ngoài của sự vật trực tiếp vào các giác quan. Giai đoạn này được thể hiện dưới 3 hình thức: cảm giác, tri giác và biểu tượng.
Cảm giác là hình thức đơn giản nhất của quá trình nhận thức và là nguồn gốc của moi sự hiểu biết của con người.
Cảm giác phản ánh từng mặt, từng thuộc tính bên ngoài của sự vật vào giác quan con người.
Tri giác là quá trình tâm lý phản ánh trọn vẹn thuộc tính bên ngoài của sự vật, hiện tượng đang tác động trực tiếp vào các giác quan. Cảm giác chính là tiền đề hình thành nên tri giác. Song nó không chỉ phản ánh sự vật từng mặt riêng lẻ mà phản ánh trọn vẹn các thuộc tính bề ngoài hiện tượng.
Biểu tượng là hình thức cao nhất của nhận thức cảm tính, cũng là bước quá độ từ nhận thức cảm tính lên nhận thức lý tính. Sự tiếp xúc trực tiếp nhiều lần với sự vật đó sẽ để lại cho chúng ta những ấn tượng. Nó đậm nét và sâu sắc đến mức có thể hiện lên trong ký ức của chúng ta ngay cả khi sự vật không còn ở trước mắt.
Nhận thức lý tính
là giai đoạn cao hơn của quá trình nhận thức dựa trên cơ sở những tài liệu do giai đoạn nhận thức cảm tính mang lại. Tư duy trừu tượng cũng phản ánh hiện thực khách quan, nhưng lại sự phản ánh gián tiếp, khái quát, đi sâu vào mối liên hệ bản chất, tất nhiên vào qui luật vận động, phát triển của sự vật.

Lênin đã nói : “Nó phản ánh hiện thực khách quan sâu sắc hơn, chính xác hơn, đầy đủ hơn”. Như vậy, tư duy trừu tượng giúp chúng ta có thể mở rộng tri thức và khái quát hiện thực khách quan một cách hiện thực hơn, toàn diện hơn và bản chất hơn.

Tư duy trừu tượng được thể hiện ở các hình thức khái niệm, phán đoán và suy lý.
Khái niệm là một hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, phản ánh những mối liên hệ và thuộc tính chung, bản chất, của một tập hợp các sự vật, các hiện tượng nào đó dựa trên cơ sở khái quát tài liệu do giai đoạn nhận thức cảm tính mang lại.
Phán đoán là hình thức của tư duy trừu tượng vận dụng các khái niệm để khẳng định và phủ định một thuộc tính, một mối liên hệ nào đó của hiện thực khách quan.
Đây là một hình thức liên kết các khái niệm, phản ánh mối liên hệ giữa các mặt bên trong bản thân sự vật hay giữa các sự vật, các hiện tượng trong ý thức con người...
Tuy nhiên, phán đoán không phải là tổng số giản đơn của những khái niệm có sự liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau.
Tùy theo góc độ khác nhau mà người ta chia phán đoán ra nhiều loại khác nhau.
Căn cứ vào việc thừa nhận hay không thừa nhận một thuộc tính nào đó của sự vật người ta chỉ ra
phán đoán khẳng định
(Vd: Trường điện từ là một dạng vật chất) và
phán đoán phủ định
(Vd: cá voi không phải là loài cá).
Ngoài ra theo mức độ phản ánh có thể chia các phán đoán thành:

+ Phán đoán đơn nhất (ma sát sinh ra nhiệt)
+ Phán đoán đặc thù (mọi vận động cơ giới đều có thể biến thành nhiệt bằng cách ma sát).
+ Phán đoán phổ biến (bất cứ hình thức vận động nào, tùy theo những điều kiện nhất định của mỗi trường hợp, đều có thể và nhất thiết phải chuyển hóa thành hình thức vận động khác).
Suy lý là một hình thức tư duy trừu tượng dựa trên cơ sở, phán đoán đã có làm tiền đề và mối liên hệ lẫn nhau giữa các phán đoán đã có để đi đến phán đoán mới (phán đoán kết luận).
Thí dụ từ hai phán đoán làm tiền đề : “Hầu hết kim loại đều dẫn điện” và “Đồng là một trong số kim loại” đi đến phán đoán mới (phán đoán kết luận). “Đồng dẫn điện”.
Suy lý có hai loại: diễn dịch và qui nạp
Mối liên hệ này được qui định một cách khách quan: trước hết cả hai giai đoạn nhận thức này đều nhằm mục đích phục vụ cho việc nhận thức ngày càng sâu sắc hơn, toàn diện hơn. Chúng đều cùng phản ánh thế giới vật chất, có cùng cơ sở sinh lý duy nhất là hệ thần kinh của con người và đều cùng chịu sự chi phối của thực tiễn xã hội.
Bên cạnh đó, nhận thức cảm tính mà không có nhận thức lý tính thì không thể hiểu được bản chất sâu xa của sự vật, không hiểu được mối liên hệ nội tại bên trong sự vật. Ngược lại nhận thức lý tính không thể có được nếu không có nhận thức cảm tính. Nhận thức bắt đầu từ trực quan sinh động nhưng nó không dừng lại ở trực quan sinh động mà nó phải phát triển lên tư duy trừu tượng để đi sâu vào bản chất, vào qui luật vận động, phát triển của sự vật.
- Chân lý và vai trò của chân lý đối với thực tiễn.
Các tính chất của chân lý:
- Mọi chân lý đều có tính khách quan, tính tương đối, tính tuyệt đối và tính cụ thể
Tính khách quan của chân lý là chỉ tính độc lập về nội dung phản ánh của nó đối với ý chí chủ quan của con người; nội dung của tri thức phải phù hợp với thực tế khách quan, thuộc về thế giới khách quan, do thế giới khách quan quy định.
Tính tuyệt đối của chân lý là chỉ tính phù hợp hoàn toàn và đầy đủ giữa nội dung phản ánh của tri thức với hiện thực khách quan.
Tính tương đối của chân lý là tính phù hợp nhưng chưa hoàn toàn đầy đủ giữa nội dung phản ánh của những tri thức đã đạt được với hiện thực khách quan mà nó phản ánh mà mới chỉ đạt được sự phù hợp từng phần, từng bộ phận, ở một số mặt, khía cạnh nào đó và trong những điều kiện nhất định.
- Vai trò của chân lý đối với thực tiễn
Mối quan hệ giữa chân lý và hoạt động trong thực tiễn là mối quan hệ song trùng trong quá trình vận động, phát triển của cả chân lý và thực tiễn.
Chân lý phát triển nhờ thực tiễn nhưng thực tiễn lại phát triển nhờ vận dụng đúng đắn những chân lý mà con người đã đạt được trong hoạt động thực tiễn.
- Ý nghĩa phương pháp luận
Quan điểm biện chứng về mối quan hệ giữa chân lý và thực tiễn đòi hỏi trong hoạt động nhận thức con người phải xuất phát từ thực tiễn để đạt được chân lý, coi chân lý là một quá trình, đồng thời phải thường xuyên tự giác vận dụng chân lý vào hoạt động thực tiễn để phát triển thực tiễn.
Coi trọng tri thức khoa học và tích cực vận dụng sáng tạo những tri thức đó vào các hoạt động kinh tế xã hội, nâng cao hiệu quả của hoạt động thực tiễn của con người. Về thực chất đó chính là việc phát huy vai trò của chân lý khoa học trong hoạt động thực tiễn.
III. KẾT LUẬN.
Con đường biện chứng từ nhận thức do triết học Mác – Lênin dẫn dắt là con đường đúng đắn nhằm vạch ra cho con người đi sâu vào thế giới vật chất. Bởi vậy, để thực tiễn mục đích cuối cùng là nhận thức để cải tạo thế giới, trước tiên con người phải nắm vững phép biện chứng của quá trình nhận thức, con đường biện chứng của quá trình nhận thức và biết vận dụng chúng một cách tự giác sáng tạo trong hoạt động thực tiễn của mình. Như C.Mác đã từng nói: “ Việc tư tưởng của con người có phản ánh chân lí khách quan hay không, hoàn toàn không phải là một vấn đề lí thuyết mà là một vấn đề thực tiễn. Trên thực tế con người phải chứng minh tính chân lí, tức tính thực tiễn và sức mạnh tư duy của mình”.
Hai là, thừa nhận con người có khả năng nhận thức được thế giới khách quan; coi nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ óc của con người, là hoạt động tìm hiểu khách thể của chủ thể; thừa nhận không có cái gì là không thể nhận thức được mà chỉ có những cái con người chưa thể nhận thức được.
I. Đặt vấn đề
Đến đây một vấn đề nữa phải được nhắc tới đó là Nhận thức cảm tính và Nhận thức lý tính có quan hệ với nhau như thế nào?
Nhận thức của con người diễn ra trên cơ sở thực tiễn và không ngừng vận động , phát triển.

Sự vận động, phát triển nhận thức diễn ra một cách biện chứng, được Lênin miêu tả như sau: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn là đó là con đường biện chứng của quá trình nhận thức chân lý, sự nhận thức hiện tượng khách quan.”
Trực quan sinh động, tư duy trừu tượng

áp dụng vào thực tiễn
là một quá trình thống nhất,hay còn gọi là chu kỳ nhận thức, song không nên hiểu các yếu tố ấy tách rời nhau mà phải hiểu chúng trong mối liên hệ biện chứng.
Bước chuyển từ giai đoạn cảm tính sang giai đoạn lý tính được thực hiện một cách biện chứng, đó là kết quả của một bước nhảy vọt biện chứng, đưa đến một sự thay đổi căn bản về chất lượng trong sự nhận thức về thế giới
CON ĐƯỜNG BIỆN CHỨNG CỦA QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC
Khái niệm chân lý: Mọi quá trình nhận thức đều sáng tạo ra những tri thức, tức những hiểu biết của con người về thực tế khách quan, nhưng không phải mọi tri thức đều có nội dung phù hợp với thực tế khách quan. Thực tế lịch sử chứng minh rằng những tri thức mà con người đạt được có nhiều trường hợp không phù hợp thậm chí hoàn toàn đối lập với thực tế khách quan.
Full transcript