Loading presentation...

Present Remotely

Send the link below via email or IM

Copy

Present to your audience

Start remote presentation

  • Invited audience members will follow you as you navigate and present
  • People invited to a presentation do not need a Prezi account
  • This link expires 10 minutes after you close the presentation
  • A maximum of 30 users can follow your presentation
  • Learn more about this feature in our knowledge base article

Do you really want to delete this prezi?

Neither you, nor the coeditors you shared it with will be able to recover it again.

DeleteCancel

Make your likes visible on Facebook?

Connect your Facebook account to Prezi and let your likes appear on your timeline.
You can change this under Settings & Account at any time.

No, thanks

Kênh phân phối NHTM

No description
by

Mai Nguyen

on 30 November 2013

Comments (0)

Please log in to add your comment.

Report abuse

Transcript of Kênh phân phối NHTM

Thực trạng phát triển kênh phân phối truyền thống của các NHTM Việt Nam
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
- Kênh phân phối là một cấu phần tất yếu phải có trong quá trình sống của doanh nghiệp nói chung và ngân hàng nói riêng.
- Sự phát triển và tính hiệu quả của kênh phân phối các NHTM Việt Nam và thế giới ra sao?
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu sự phát triển kênh phân phối của các ngân hàng thương mại Việt Nam và thế giới.
- Tìm hiểu cách bài trí không gian của một số ngân hàng.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4. Bố cục: 4 chương
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KÊNH PHÂN PHỐI TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG
1.1. KÊNH PHÂN PHỐI LÀ GÌ?
Khái niệm
Theo quan điểm marketing: Kênh phân phối là sự tổ chức các tiếp xúc ở bên ngoài để quản lý các hoạt động để đạt đến các mục tiêu phân phối của nó
Nói cách khác, nó là sự kết hợp hữu cơ giữa người sản xuất và các trung gian thực hiện bán sản phẩm cho người tiêu dùng cuối cùng để tối đa hóa thỏa mãn nhu cầu của họ.
Thông tin
Thu thập thông tin cần thiết để họach định marketing và tạo thuận tiện cho sự trao đổi sản phẩm và dịch vụ.
Triển khai và phổ biến những thông tin có sức thuyết phục về sản phẩm nhằm thu hút khách hàng.
Cổ động
Tìm ra và truyền thông đến khách hàng tương lai.
Tiếp xúc
Định dạng nhu cầu và phân phối sản phẩm thích ứng với nhu cầu của khách hàng
Cân đối
Cố gắng để đạt được sự thỏa thuận cuối cùng về giá cả và những điều kiện khác liên quan để có thể thực hiện được việc chuyển giao quyền sở hữu hay quyền sử dụng sản phẩm
Thương lượng
- Phân phối vật phẩm
- Tài trợ
- Chia sẻ rủi ro

Chức năng khác
CHỨC NĂNG
Phân loại
Kênh cấp 1
Kênh cấp 2
Kênh nhiều cấp
Kênh trực tiếp
(Kênh cấp 0)
1.2. KÊNH PHÂN PHỐI TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG
Thời gian hình thành và
trình độ kỹ thuật công nghệ
Kênh phân phối truyền thống
Kênh phân phối hiện đại
Hệ thống kênh phân phối truyền thống của ngân hàng bao gồm chi nhánh và các ngân hàng đại lý.
Chi nhánh
Chi nhánh là loại kênh truyền thống gắn với các trụ sở và hệ thống cơ sở vật chất tại những địa điểm nhất định,
Ngân hàng đại lí:
Ngân hàng đại lý là một hình thức tổ chức giữa các ngân hàng, dựa trên hoạt động của các ngân hàng nhỏ có các tài khoản trong các ngân hàng lớn nhằm thực hiện các dịch vụ khác nhau.

Chi nhánh
Tính ổn định tương đối cao
tương đối an toàn, dễ dàng tạo được hình ảnh đối với khách hàng.
Thụ động, chi phí lớn và đòi hỏi phải có khuôn viên rộng, thuận tiện, lực lượng nhân viên nghiệp vụ đông đảo và đội ngũ cán bộ quản lý tốt

Ngân hàng đại lí
Chi phí thấp, tăng cơ hội kiếm lợi nhuận của NH trong điều kiện bị hạn chế hoặc chưa được phép mở rộng thêm chi nhánh
+ Không được chủ động cung cấp sản phẩm dịch vụ đến tận tay khách hàng.
+ Không được trực tiếp có quan hệ với khách hàng của ngân hàng, ảnh hưởng đến việc tạo hình ảnh và dấu ấn của ngân hàng trong tâm trí khách hàng
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KÊNH PHÂN PHỐI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
2.1. Sự phát triển hệ thống kênh phân phối truyền thống của các NHTM Việt Nam
Ở Việt Nam, hơn 50 năm phát triển vừa qua, hầu hết các ngân hàng mới chỉ có duy nhất kênh phân phối truyền thống - chủ yếu là hệ thống chi nhánh, việc đa dạng hoá kênh phân phối đóng vai trò là một trong những yếu tố làm nên thành công trong cuộc đua cạnh tranh ngày càng hay gắt về cung cấp các sản phẩm và dịch vụ. Trong lĩnh vực ngân hàng hệ thống chi nhánh của ngân hàng đã thực sự có hiệu quả,cung cấp tới khách hàng các dịch vụ khách hàng cá nhân riêng lẻ và độc đáo

NHTMVN
- Ngày 26/03/1988, Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam được thành lập
- Ngày 14/11/1990, thành lập Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam thay thế Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam.
- Ngày 15/11/1996, Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam đổi tên thành Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam.
LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN
Năm 2009,
Agribank vinh dự được Đảng, Nhà nước, Chính phủ, ngành ngân hàng, nhiều tổ chức uy tín trên thế giới trao tặng các bằng khen cùng nhiều phần thưởng cao quý
Năm 2010,
Agribank là Top 10 trong 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam. Năm 2010, Agribank chính thức vươn lên là Ngân hàng số 1 Việt Nam trong lĩnh vực phát triển chủ thẻ với trên 6,38 triệu thẻ, bứt phá trong phát triển các sản phẩm dịch vụ tiên tiến, đặc biệt là các sản phẩm thanh toán trong nước v.v
Năm 2011, Agribank chuyển đổi hoạt động sang mô hình Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu 100% vốn điều lệ
Năm 2012, vượt lên khó khăn của tình hình kinh tế thế giới và trong nước, hoạt động kinh doanh của Agribank tiếp tục phát triển ổn định
Agribank là ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam, có mạng lưới rộng khắp trên toàn quốc với gần
2.300
chi nhánh và phòng giao dịch được kết nối trực tuyến. Agribank có quan hệ ngân hàng đại lý với
1.043
ngân hàng tại
92
quốc gia và vùng lãnh thổ.
a) Lịch sử hình thành và phát triển lâu năm, đóng vai trò trụ cột trong hệ thống Ngân hàng Việt Nam
b) Cơ sở khách hàng mạnh
d) Đội ngũ lãnh đạo và cán bộ trẻ, nhiệt huyết, năng động, có năng lực, được đào tạo và nâng cao năng lực chuyên môn thường xuyên
e) Hệ thống quản trị theo chuẩn mực quản trị ngân hàng hiện đại
LỢI THẾ PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI
MỞ RỘNG MẠNG LƯỚI
Năm 2010, Vietinbank đã có 1.093 đơn vị mạng lưới, tăng 146 đơn vị so với năm 2009.
Năm 2010, Vietinbank cũng đã thành lập 01 Văn phòng đại diện tại Frankfurt, xúc tiến thành lập 02 chi nhánh tại Frankfurt và Berlin (Đức).
Tháng 2/2012, VietinBank tiếp tục khai trương Chi nhánh tại Viêng Chăn – Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Ngày 28/5/2012, VietinBank đã khai trương Chi nhánh tại Thủ đô Berlin, CHLB Đức. Cuối năm 2012, VietinBank đã ký kết Hợp đồng đầu tư chiến lược với The Bank of Tokyo – Mitsubishi UFJ, Ltd
Năm 2011, Vietinbank có 149 Chi nhánh trong nước với 1.123 đơn vị mạng lưới tại tất cả các tỉnh thành phố trong nước.
Cho đến nay, Vietinbank có hệ thống mạng lưới trải rộng toàn quốc với 01 Sở giao dịch, 150 Chi nhánh và trên 1000 Phòng giao dịch/ Quỹ tiết kiệm, có quan hệ đại lý với trên 900 ngân hàng, định chế tài chính tại hơn 90 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới
- Lịch sử hình thành và phát triển lâu năm, là NHTM Nhà nước đầu tiên được lựa chọn thực hiện thí điểm cổ phần hóa, hoạt động đa năng
- Sở hữu hạ tầng kỹ thuật ngân hàng hiện đại, Vietcombank
có lợi thế rõ nét trong việc ứng dụng công nghệ tiên tiến vào xử lý tự động
- Các dịch vụ ngân hàng, phát triển các sản phẩm, dịch vụ điện tử dựa trên nền tảng công nghệ cao.
- Đội ngũ cán bộ có chuyên môn vững vàng, nhạy bén với môi trường kinh doanh hiện đại, mang tính hội nhập cao.
LỢI THẾ PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI
1
Hội sở chính tại Hà Nội
1
Sở giao dịch

hơn 300
phòng giao dịch
3
công ty con tại Việt Nam
2
công ty con tại nước ngoài
1
văn phòng đại diện tại Singapore
5
công ty liên doanh, liên kết.
MẠNG LƯỚI
1) Ưu tiên phát triển mạng lưới ở vị trí đông dân cư, thuận tiện giao thông, hình ảnh và thiết kế chuẩn mực, dễ nhận diện thông qua vị trí bắt mắt và bảng hiệu lớn.
2) Mở rộng mạng lưới đi đôi với việc tăng cường quản trị rủi ro và quản trị kinh doanh hiệu quả tiết kiệm.
3) Lựa chọn điểm đặt cũng như định dạng mô hình hoạt động các điểm giao dịch (CN/PGD) cho phù hợp với quy mô thị trường và tình hình thực tế tại địa bàn đó.
4) Ưu tiên phát triển sớm tại các vùng kinh tế trọng điểm, phát triển mạng lưới gắn liền với việc phục vụ theo chuỗi khách hàng vệ tinh của các doanh nghiệp lớn.
5) Ưu tiên phát triển kết hợp với mạng lưới Viettel và quốc phòng.
CHIẾN LƯỢC MẠNG LƯỚI
HỆ THỐNG MẠNG LƯỚI
Mạng lưới ATM và POS
+ Máy ATM : 250 máy (tính đến cuối năm 2008).
+ Máy POS : 1.100 máy (tính đến cuối năm 2008).
Công ty thành viên
+ Công ty Cổ phần chứng khoán Thăng long (TSC).
+ Công ty Quản lý quĩ đầu tư Chứng khoán Hà nội (HFM).
+ Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản(AMC).
+ Công ty Cổ phần Địa ốc MB (MB Land).

Hệ thống MB có trên
80
điểm giao dịch tại hầu hết các tỉnh Miền Bắc, Miền Trung và Miền Nam.
Mục tiêu của MB trong thời gian tới là:
31/12/2013: mạng lưới hoạt động đạt tối thiểu 333 ĐGD (1 SGD 69CN và 263 PGD)
31/12/2015: mạng lưới hoạt động đạt tối thiểu 390 ĐGD (1 SGD 69CN và 320 PGD)
Lịch sử xây dựng, trưởng thành của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam là một chặng đường đầy gian nan thử thách nhưng cũng rất đỗi tự hào gắn với từng thời kỳ lịch sử đấu tranh chống kẻ thù xâm lược và xây dựng đất nước của dân tộc Việt Nam. Dù ở bất cứ đâu, trong bất cứ hoàn cảnh nào, các thế hệ cán bộ nhân viên BIDV cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, là người lính xung kích của Đảng trên mặt trận tài chính tiền tệ, phục vụ đầu tư phát triển của đất nước...
MẠNG LƯỚI
Ngân hàng thương mại
Chứng khoán
Bảo hiểm
Đầu tư tài chính
KHỐI SỰ NGHIỆP
+ Trung tâm Đào tạo
(BTC)
Trung tâm Công nghệ thông tin (BITC)
KHỐI KINH DOANH
+ 103 chi nhánh cấp 1 với gần 400 điểm giao dịch, hơn 700 máy ATM và hàng chục ngàn điểm POS trên toàn phạm vi lãnh thổ, sẵn sàng phục vụ mọi nhu cầu khách hàng.
+ Trong đó có 2 đơn vị chuyên biệt là: Ngân hàng chỉ định thanh toán phục vụ thị trường chứng khoán và Ngân hàng bán buôn phục vụ làm đại lý ủy thác giải ngân nguồn vốn ODA (Sở Giao dịch 3)

Một số nhận xét về sự phát triển kênh phân phối truyền thống của các ngân hàng thương mại
Việt Nam
Số lượng các chi nhánh của các NHTM trong nước không ngừng tăng lên trong những năm vừa qua. Bên cạnh việc mở rộng hệ thống các chi nhánh trong nước, trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế các NHTM Việt Nam cũng tăng cường thiết lập quan hệ đại lý với các ngân hàng nước ngoài ở nhiều nước trên thế giới trong điều kiện chưa được phép thành lập các chi nhánh ở nước ngoài, nhằm tăng cường khả năng cung ứng dịch vụ đáp ứng tốt hơn nhu cầu sử dụng dịch vụ của ngân hàng, đồng thời từng bước tiếp cận với các thị trường mới.
Số lượng ngân hàng tại Việt Nam lớn, nhưng quy mô của hầu hết các ngân hàng này nhỏ hơn so với các ngân hàng có quy mô trung bình của khu vực. Hiệu quả hoạt động kinh doanh và khả năng sinh lời của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam là thấp so với mức bình quân của các quốc gia hàng đầu khu vực.
Nhìn chung, tăng trưởng mạng lưới hệ thống ngân hàng Việt Nam trong thời gian vừa qua chủ yếu là do sự phát triển của nhóm các ngân hàng thương mại cổ phần. Số lượng chi nhánh của nhóm này tăng rất nhiều trong 5 năm vừa qua, đại diện cho hầu hết các thay đổi số lượng chi nhánh ngân hàng Việt Nam.
Mặc dù số lượng chi nhánh tăng mạnh nhưng mức độ phân bố ở nước ta không đồng đều, chủ yếu tập trung ở các vùng kinh tế trọng điểm là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
NGUYÊN NHÂN
Theo xu hướng chung của thế giới và đòi hỏi tất yếu trong quá trình phát triển, các NHTM Việt Nam cũng đã không ngừng mở rộng mạng lưới chi nhánh, tăng cường thiết lập quan hệ đại lý với các ngân hàng nước ngoài ở nhiều nước trên thế giới trong điều kiện chưa được phép thành lập các chi nhánh ở nước ngoài, nhằm tăng cường khả năng cung ứng dịch vụ đáp ứng tốt hơn nhu cầu sử dụng dịch vụ của ngân hàng, đồng thời từng bước tiếp cận với các thị trường mới.
Mục đích cuối cùng mà các ngân hàng hướng tới khi mở rộng mạng lưới chi nhánh đó là nhằm chiếm lĩnh thị phần, huy động được nguồn vốn nhiều hơn. Trong điều kiện thị trường khó khăn, ngoài việc chạy đua lãi suất, các ngân hàng cũng đẩy mạnh mở rộng mạng lưới để tăng sự hiện diện, đáp ứng nhu cầu của dân cư và doanh nghiệp.
CHƯƠNG 3:
SO SÁNH SỰ PHÁT TRIỂN KÊNH PHÂN PHỐI TRUYỀN THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI
MỘT SỐ NHTM THẾ GIỚI TẠI VIỆT NAM
Mạng lưới quốc tế của HSBC bao gồm 6.600 văn phòng tại 80 quốc gia và vùng lãnh thổ ở châu Âu, châu Á - Thái Bình Dương, Bắc Mỹ và khu vực Mỹ Latinh, Trung Đông và Bắc Phi.
Năm 1870 HSBC mở văn phòng đầu tiên tại Sài Gòn (nay là TP. Hồ Chí Minh). Tháng 8 năm 1995, chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh được cấp phép hoạt động và cung cấp đầy đủ các dịch vụ tài chính ngân hàng. HSBC khai trương chi nhánh thứ hai tại Hà Nội và thành lập Văn phòng Đại diện tại Cần Thơ vào năm 2005.
Hiện tại, mạng lưới hoạt động của ngân hàng bao gồm một hội sở, một chi nhánh và năm phòng giao dịch tại Tp. Hồ Chí Minh, một chi nhánh, ba phòng giao dịch và một quỹ tiết kiệm tại Hà Nội, bốn chi nhánh tại Bình Dương, Cần Thơ, Đà Nẵng, Đồng Nai và hai văn phòng đại diện tại Hải Phòng và Vũng Tàu.
Citibank là một ngân hàng quốc tế lớn, là công ty con hoạt động trong lĩnh vực tài chính của tập đoàn Citigroups. Citibank được thành lập năm 1812 với tên gọi City Bank of New York, sau đó là First National City Bank of New York. Sở hữu hơn 4.600 chi nhánh và 20.000 máy ATM trên toàn thế giới
Citi là ngân hàng Hoa kỳ đầu tiên đón nhận giấy phép thành lập chi nhánh tại Việt Nam và mở một chi nhánh với đầy đủ chức năng tại Hà Nội vào năm 1994. Vào năm 2001, Citi tiếp tục trở thành ngân hàng đầu tiên cung cấp các dịch vụ ngân hàng trực tuyến tại Việt Nam.

Trong năm 2009, Citibank đã mở cửa dịch vụ ngân hàng bán lẻ đầu tiên tại TP Hồ Chí Minh.
Trong năm 2010, Citibank đã mở chi nhánh Ngân Hàng Thông Minh thứ hai trên toàn quốc và là đầu tiên tại Hà Nội.
Trong tháng 12 năm 2010, Citibank ra mắt thẻ tín dụng tại Việt Nam, đó là thẻ Citibank PremierMiles.
ANZ được thành lập tại Australia hơn 150 năm trước. Từ đó đến nay ANZ đã phát triển thành một tập đoàn ngân hàng và tài chính quốc tế lớn. ANZ cũng là ngân hàng hàng đầu của Australia tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Hiện nay, ANZ là một trong 50 ngân hàng lớn nhất thế giới.
- Hai chi nhánh
- Một văn phòng đại diện
- Hệ thống máy ATM trên toàn quốc
- Mạng lưới EFTPOS rộng lớn

Mạng lưới hoạt động của ANZ tại Việt Nam
3.2. Một số đánh giá so sánh về hệ thống kênh phân phối của ngân hàng thương mại Việt Nam và thế giới
Trung bình một ngân hàng thương mại ở Mỹ phục vụ 50.500 người trong khi tại Việt Nam, con số này là 2,25 triệu người.
Theo Tập đoàn Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang Mỹ (FDIC), tính trung bình, tổng tài sản của một ngân hàng thương mại ở Việt Nam lớn hơn gấp 2,5 lần một ngân hàng thương mại ở Mỹ
Một số liệu thống kê khác của Ngân hàng Thế giới cho thấy tỉ lệ số lượng chi nhánh, phòng giao dịch của các ngân hàng thương mại trên 100.000 người trưởng thành ở Việt Nam năm 2010 là 3,3, trong khi con số này ở Mỹ là 35,7.
Thời gian từ năm 2008 trở lại đây, suy thoái kinh tế kéo dài đang đẩy ngành ngân hàng châu Âu vào cảnh khốn khó và buộc phải đóng cửa các chi nhánh trên khắp châu lục nhằm tiết giảm chi phí và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB), đã đóng cửa 20.000 chi nhánh trên khắp châu Âu trong vòng bốn năm qua đưa tổng số đơn vị còn còn hoạt động xuống 218.687 chi nhánh.
Mạng lưới chi nhánh ngân hàng tại Ireland cũng giảm 3,3% và được nhận định tiếp tục giảm trong năm 2013. Trong khi đó, hệ thống chi nhánh ngân hàng tại Italy cũng thu hẹp 3,1%.
Ngay cả nhiều nước có nền kinh tế được đánh giá là ổn định hơn như Anh, Đức, Pháp cũng có số chi nhánh ngân hàng lần lượt giảm 5%, 8% và 3% vào năm ngoái
Trái ngược với xu thế thu hẹp hoạt động ở Tây Âu, ngành ngân hàng lại mở rộng hoạt động sang phía Đông. Chẳng hạn số chi nhánh lại gia tăng tại một số quốc gia Đông Âu như Ba Lan (tăng 4%), Cộng hòa Séc (tăng 2,3%) và Lítva (tăng 1,8%).
CHƯƠNG 4:
BÀI TRÍ KHÔNG GIAN NỘI THẤT CỦA MỘT SỐ
NGÂN HÀNG

4.1. Bộ quy chuẩn của ngân hàng thương mại về thiết kế phòng giao dịch
Bộ quy chuẩn của các NHTM thường tập trung vào 6 khu vực
- Khu vực bên ngoài PGD
- Khu vực quan trọng để thu hút khách hàng bước vào PGD của ngân hàng
- Khu vực dịch vụ chung
- Khu vực quầy giao dịch
- Hai khu vực còn lại là khu vực phục vụ khách hàng doanh nghiệp (Corporate & SME) và khu vực phục vụ khách hàng của Private Banking.
Kênh gián tiếp
Xu hướng phát triển kênh
phân phối truyền thống
Trước những năm 1950, để mở rộng thị phần và gây sức ép cạnh tranh các ngân hàng thường phát triển mạnh mẽ mạng lưới chi nhánh. Nhưng xu thế này không còn phù hợp trong kinh doanh ngân hàng hiện đại bởi những hạn chế của hệ thống mạng lưới chi nhánh.Tuy nhiên, không ai dám phủ nhận sự cần thiết của mạng lưới các chi nhánh ngân hàng và thực tế là ngày nay các ngân hàng vẫn đang không ngừng nỗ lực gia tăng, mở rộng mạng lưới chi nhánh của mình không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn trên phạm vi thế giới. Và nhiều nhà phân tích ngân hàng nhận thấy rằng ngày nay vai trò của chi nhánh đang tiến triển theo những định hướng mới.
Với mức thu nhập ngày càng lớn, ngày nay các chi nhánh đã được coi là “tai mắt” của ngân hàng trong các khu vực thị trường, giúp đỡ các ngân hàng nhận ra đâu là khách hàng mục tiêu, đâu là khách hàng tiềm năng và trên cơ sở đó có chiến lược cung cấp sản phẩm dịch vụ sao cho mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho ngân hàng. Các chi nhánh cũng là nơi mà khách hàng được cung cấp dịch vụ tài chính trọn gói, thoả mãn đầy đủ nhu cầu của họ. Trong khi, hầu hết các phương tiện tự động tỏ ra không hiệu quả so với dịch vụ bán hàng trọn gói được cung cấp tại các chi nhánh.
Sự tự động hoá trong hoạt động đòi hỏi các chi nhánh trong tương lai phải mở rộng hơn nữa về quy mô. Trong nhiều trường hợp điều đó đòi hỏi sự hợp nhất nhiều chi nhánh nhỏ để tạo ra các chi nhánh lớn, có ít nhân viên hơn song hiệu suất phục vụ của họ lại cao hơn.
Như vậy, các chi nhánh truyền thống sẽ đại diện cho ngân hàng và trở thành một kênh phân phối hỗn hợp thực sự với đầy đủ các dịch vụ và với khả năng xử lý tốt nhất , có khả năng phục vụ tại các vùng xa xôi một cách tận tuỵ với khách hàng. Chi nhánh sẽ trở thành một thành phần quan trọng và bổ khuyết trong chiến dịch thâm nhập sản phẩm và dịch vụ.

Như vậy các ngân hàng trên thế giới nói chung và tại liên minh Châu Âu nói riêng, hầu hết đều đang tiến hành thu hẹp các chi nhánh của mình để ứng phó với tình hình kinh tế khó khăn trong những năm vừa qua. Bên cạnh đó các ngân hàng của thế giới đang tập trung phát triển sản phẩm dịch vụ kết hợp với kỹ thuật như Internet Banking, Mobile Banking và những sản phẩm không đòi hỏi sự phát triển về mạng lưới chi nhánh.
Chúng ta đã thấy khác biệt giữa thực trạng phát triển mạng lưới chi nhánh của ngân hàng thương mại Việt Nam và thế giới. Đó là trong những năm vừa qua, khi chịu ảnh hưởng từ khủng hoảng tài chính, mạng lưới các ngân hàng thương mại lớn trên thế giới có xu hướng thu hẹp phạm vi thì một số ngân hàng Việt Nam vẫn mở rộng mạng lưới của mình.

KẾT LUẬN
Là một phần gắn kết doanh nghiệp với thị trường, kênh phân phối là một cấu thành tất yếu phải có trong quá trình sống của doanh nghiệp, đó là phạm trù mô tả cách thức doanh nghiệp tiếp cận với thị trường và cung cấp sản phẩm, dịch vụ tới khách hàng. Hệ thống kênh phân phối càng hiệu quả thì việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ ra thì trường càng tốt đẹp.
Việt Nam đang đẩy mạnh tái cấu trúc hệ thống ngân hàng. Từ thực trạng mạng lưới chi nhánh ngân hàng Việt Nam, có thể đưa ra một số gợi ý đối với ngân hàng Việt Nam. Các ngân hàng Việt Nam cần chú ý tới việc hợp lý hóa hệ thống mạng lưới ngân hàng, tập trung xây dựng và phát triển hệ thống kênh phân phối điện tử nhằm tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính ngân hàng cho người dân. Sáp nhập để tăng qui mô và mở rộng mạng lưới, đồng hợp tác giữa các ngân hàng lớn và nhỏ sẽ giúp nâng cao sức mạnh và khả năng cạnh tranh của ngân hàng Việt
Full transcript