Loading presentation...

Present Remotely

Send the link below via email or IM

Copy

Present to your audience

Start remote presentation

  • Invited audience members will follow you as you navigate and present
  • People invited to a presentation do not need a Prezi account
  • This link expires 10 minutes after you close the presentation
  • A maximum of 30 users can follow your presentation
  • Learn more about this feature in our knowledge base article

Do you really want to delete this prezi?

Neither you, nor the coeditors you shared it with will be able to recover it again.

DeleteCancel

Make your likes visible on Facebook?

Connect your Facebook account to Prezi and let your likes appear on your timeline.
You can change this under Settings & Account at any time.

No, thanks

Bài thuyết trình về văn hoá Rôma, Hy Lạp cổ đại

No description
by

Vịnh Nguyễn Quang

on 4 October 2015

Comments (0)

Please log in to add your comment.

Report abuse

Transcript of Bài thuyết trình về văn hoá Rôma, Hy Lạp cổ đại

Bài thuyết trình về văn hoá Rôma, Hy Lạp cổ đạ
i

Hệ thống lịch La Mã cổ đại
Nền khoa học Hy Lạp
Rô-ma cổ đại
Chữ viết

Bảng chữ cái Hy Lạp là hệ thống 24
ký tự được dùng để viết tiếng Hy Lạp từ cuối
thế kỷ thứ 9 trước Công nguyên hoặc đầu thế kỷ
thứ 8 trước Công nguyên. Theo nghĩa hẹp đây là
bảng chữ cái đầu tiên và lâu đời ghi mỗi nguyên âm
và phụ âm bằng một biểu tượng riêng.Nó cũng
được sử dụng như vậy cho đến ngày nay. Những
chữ cái này cũng được dùng trong bảng số Hy
Lạp từ thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên.
Bảng chữ cái Hy Lạp được kế thừa từ Bảng chữ cái Phoenician, và nó không hề liên quan đến hệ thống chữ viết trước của Hy Lạp là Linear B hay Cypriot. Nó cũng là nền tảng cho nhiều bảng chữ cái khác ở châu Âu và Trung Đông, bao gồm cả bảng chữ cái Latinh. Ngoài việc được sử dụng để viết tiếng Hy Lạp hiện đại, ngày nay các chữ cái này cũng được dùng như những biểu tượng Toán và khoa học, Vật lý hạt trong Vật lý, hay tên các ngôi sao, tên của các cơn bão nhiệt đới siêu cấp và trong những mục đích khác.
Các chữ cái Hy Lạp cổ đại và cách đọc
Thuật ngữ "Lịch La Mã" dùng để chỉ tất cả các loại lịch do người La Mã sáng tạo và sử dụng cho tới trước thời kỳ Julius Caesar (năm 45 trước Công Nguyên)

Lịch Romulus
Lịch La Mã được Romulus (người sáng lập thành Roma, khoảng 753 TCN) tạo ra dựa trên hệ thống âm lịch do người Hy Lạp sử dụng.

Lịch này bao gồm 10 tháng, bắt đầu từ ngày chứa điểm xuân phân (vernal equinox - khoảng ngày 21 tháng 3 dương lịch hiện nay), tức thời điểm mà độ dài ngày và đêm bằng nhau bắt đầu mùa xuân (phân biệt với điểm thu phân, autumnal equinox, cũng có ngày và đêm dài bằng nhau nhưng bắt đầu cho mùa thu). Tổng cộng 10 tháng này bao gồm 304 (hay 305) ngày, số ngày còn lại được bổ sung vào các tháng cuối của năm.
Tháng đầu tiên tên Martius, tôn vinh vị thần Chiến tranh Mars của người La Mã. Tháng này có 31 ngày.
Aprilis, tôn vinh nữ thần Hy Lạp Aphrodite (tức thần Vệ nữ, hay Venus trong thần thoại La Mã), tượng trưng cho sự sinh sôi, tình yêu, niềm hoan lạc và sắc đẹp. Tháng này có 30 ngày.
Maius, có 2 giả thiết: 1. tôn vinh các vị nguyên lão La Mã (maiores); hoặc 2. tôn vinh nữ thần Maia trong thần thoại Hy Lạp, nữ thần lớn nhất, đẹp nhất, cũng là nữ thần Đất đai, lấy thần Zeus và sinh ra Hermes, rồi nuôi Arcas, con trai riêng của Zeus, để che mắt bà vợ Hera hay ghen tuông của ông ta. Tháng này có 31 ngày.
Iunius, tôn vinh nữ thần La Mã Juno (tức Hera trong thần thoại Hy Lạp, nữ chúa của các vị thần, vợ của chúa tể các thần - Zeus trong thần thoại Hy Lạp). Tháng này có 30 ngày.
Quintilis, trong tiếng Latinh có nghĩa là "thứ năm". Có 31 ngày.
Sextilis, "thứ sáu" trong tiếng Latinh, có 30 ngày.
September, từ gốc Latinh là septem có nghĩa là "thứ bảy". Có 30 ngày.
October: từ gốc Latinh là octo có nghĩa là "thứ tám". Có 31 ngày.
November: từ gốc Latinh là novem có nghĩa là "thứ chín". Có 30 ngày.
December: từ gốc Latinh là decem có nghĩa là "thứ mười". Có 30 ngày.

Lịch Numa
Vị vua thứ hai của La Mã là Numa Pompillus (715-673 TCN) đã cải tiến lịch Romulus, bằng cách cộng 50 ngày dư của Romulus vào, giảm 6 tháng có 30 ngày xuống còn 29 ngày (50 + 6 = 56), từ đó thêm vào lịch 2 tháng có 28 ngày, đặt tên là:
Februarius: trong tiếng Latin februltus có nghĩa là "sửa lại những gì đã sai" và trong thời gian này người La Mã bắt đầu sự tinh lọc hàng năm, đặt kề sau tháng December. Tháng này là tháng khắc nghiệt nhất trong năm (tương ứng với tháng 1 dương lịch bây giờ).
Ianuarius: đặt sau tháng Februarius và trước khi quay vòng lại tháng Martius. Tháng này được đặt theo vị thần Janus trong thần thoại La Mã, có hai khuôn mặt ngược nhau, tượng trưng cho sự thay đổi, chuyển tiếp, khởi đầu và kết thúc.
Ngoài ra, Numa cộng thêm 1 ngày vào tháng Februarius, cứ 4 năm 1 lần, và vào năm này ông cho thêm 1 tháng gọi là mens intercalaris (tháng chênh lệch) có 29 ngày vào sau tháng Februarius.
Lịch Cộng hoà La Mã
Vào thời kỳ Cộng hoà La Mã (khoảng 450 TCN), hai tháng Februarius và Ianuarius được đảo ngược, có lẽ để "làm vui lòng" vị thần Janus, còn tháng chênh lệch mens intercalaris được chuyển xuống cuối năm và đổi tên thành Mercedonius, rút xuống còn 27 ngày nhưng đồng thời cũng rút ngắn khoảng cách xuống 2 năm thay vì 4 năm như trước. Chữ mercedonius có nguồn gốc từ merces, tức là "tiền công" mà công nhân được lãnh vào thời điểm này trong năm.
Do đó, theo lịch Cộng hoà La Mã, cứ 2 năm lại có 1 tháng Mercedonius 27 ngày, và tháng Februarius liền trước đó rút ngắn xuống còn 23 hoặc 24 ngày (xen kẽ). Và số ngày trong năm tiến gần tới số ngày của năm thiên văn hơn: 2 năm có tháng Mercedonius gồm 377 và 378 ngày, 2 năm còn lại có 355 ngày. Tính bình quân trong 4 năm, mỗi năm theo lịch Cộng hoà La Mã có 366,25 ngày. Trong thời kỳ này, một tuần lễ được tính có 8 ngày.

Martius: 31 ngày
Aprilis: 29 ngày
Maius: 31 ngày
Iunius: 29 ngày
Quintilis: 31 ngày
Sextilis: 29 ngày
September: 29 ngày
October: 31 ngày
November: 29 ngày
December: 29 ngày
Ianuarius: 29 ngày
Februarius: 28 ngày (hay 23 hoặc 24 ngày trong năm có tháng Mercedonius)
Mercedonius: 27 ngày (chỉ 2 năm một lần)


Lịch Numa bao gồm:
Martius: 31 ngày
Aprilis: 29 ngày
Maius: 31 ngày
Iunius: 29 ngày
Quintilis: 31 ngày
Sextilis: 29 ngày
September: 29 ngày
October: 31 ngày
November: 29 ngày
December: 29 ngày
Februarius: 28 ngày (hay 29 ngày
mỗi 4 năm)
Mens intercalaris: 29 ngày (chỉ
4 năm 1 lần)
Ianuarius: 28 ngày
Người Hy Lạp  có hiểu biết chính xác
hơn về trái đất và hệ mặt trời , người
Rô ma  tính một năm là  365 ngày ¼ ,
định ra một tháng lần lượt có 30 và 31
ngày, riêng tháng hai có 28 ngày,  rất gần
với hiểu biết ngày nay
Các nhà khoa học người La Mã cổ đại cũng có công sưu tập, tổng hợp những kiến thức khoa học khắp vùng Địa Trung Hải. Những nhà khoa học nổi tiếng thời đó như Plinius, Ptôlêmê, Hêrôn .
Toán học Hy Lạp là ám chỉ toán học được viết bằng tiếng Hy Lạp khoảng giữa 600 TCN và 450[13]. Các nhà toán học Hy Lạp sống ở các thành phố rải rác trên toàn bộ Địa Trung Hải, từ Ý tới Bắc Phi, nhưng lại thống nhất về văn hóa và ngôn ngữ. Toán học Hy Lạp đôi khi được gọi là toán học Hellenistic (Hy Lạp hóa).
Toán học Hy Lạp dường như bắt đầu với Thales
(khoảng 624 - khoảng 546 TCN) và Pythagoras
(khoảng 582 - khoảng 507 TCN). Mặc dù tầm
ảnh hưởng không còn, họ có thể vẫn phát triển
ý tưởng từ toán học Ai Cập, Babylon, và có thể
cả Ấn Độ. Theo truyền thuyết, Pythagoras đã
chu du tới Ai Cập để học toán học, hình học,
và thiên văn từ các đạo sĩ Ai Cập.
Thales đã sử dụng hình học để giải các bài toán như là tính chiều cao của các hình chóp và khoảng cách từ các tàu tới bờ biển. Pythagoras được coi là người đầu tiên đưa ra chứng minh cho định lý Pythagore, mặc dù phát biểu của định lý đã đi qua một chặng đường lịch sử dài. Trong lời bình luận về Euclid, Proclus phát biểu rằng Pythagoras đã diễn đạt định lý mang tên ông và dựng nên bộ ba Pythagore một cách đại số hơn là hình học. Trường học của Plato có câu khẩu hiệu: "Không để những thứ nông cạn trong hình học vào đây."
Học thuyết Pythagoras đã khám phá ra sự tồn tại của các số hữu tỉ. Eudoxus (408 - khoảng 355 TCN) đã phát minh ra phương pháp vét cạn, tiền thân của khái niệm hiện đại tích phân. Aristotle (384 - khoảng 322 TCN) đã lần đầu viết ra các luật về logic. Euclid (khoảng 300 TCN) là ví dụ sớm nhất của một khuôn mẫu mà vẫn còn được sử dụng cho đến ngày nay, định nghĩa, tiên đề, định lý, chứng minh. Ông cũng nghiên cứu về các đường conic. Cuốn sách của ông, Cơ bản, được tất cả những người có học biết đến ở phương Tây cho đến giữa thế kỉ 20. Thêm vào các định lý quen thuộc của hình học, như định lý Pythagore, Cơ bản còn có cả chứng minh rằng căn bậc hai của hai là số vô tỉ và có vô hạn số nguyên tố. Sàng Eratosthenes (khoảng 230 TCN) đã được sử dụng để tìm các số nguyên tố. với người Hi lạp, toán học đã vượt lên cả việc ghi chép. Những nhà toán học có tên tuổi tới nay đã để lại những định lí, tiên đề có giá trị khái quát cao trong cuộc sống và đặc biệt đối với lĩnh vực toán học
Một số người nói rằng người vĩ đại nhất trong các nhà toán học Hy Lạp, nếu không muốn nói là mọi thời đại, là Archimedes xứ Syracuse (287—212 TCN) xứ Syracuse. Theo như Lucius Mestrius Plutarchus, ở tuổi 75, trong khi đang vẽ các công thức toán học ở trên cát, ông đã bị một tên lính La Mã dùng giáo đâm chết. Roma cổ đại để lại ít bằng chứng về sự quan tâm vào toán học lý thuyết.
Văn học Hy Lạp Rô-ma cổ đại
Từ khi có bút tích văn học đến
khi Hi Lạp trở thành chư hầu, rồi nhập
vào địa phận của La Mã, văn học Hi Lạp
chia ra 3 thời kì lớn.
Trước khi có văn học viết, trên đất nước «con cháu các vị thần » này đã có một nền văn chương thần thoại phong phú vào bậc nhất thế giới .Từ những chất liệu thần thoại đẹp đẽ giàu giá trị nhân văn, triết lý này, những ca sĩ dân gian đã sáng tác những bài ca bất tử về các vị thần, các anh hùng thành bang. . . Những bài ca ấy lạI được Homer kế thừa để sáng tạo nên hai thiên anh hùng ca (sử thi) vĩ đại Illiade và Odyssee .
Sau Homer, nhiều nhà thơ sáng tác về các truyền thuyết thành Troie và thành Thebes, thơ giáo huấn của Hesiode… nhưng ít có giá trị. Đặc biệt, Hesiode dùng thơ ca ngợi con ngườI lao động, những công việc đồng áng bình dị, nhọc nhằn và ý nghĩa cao quí duy trì cuộc sống của con người. Tác phẩm Công việc và tháng ngày là tập giáo huấn con ngườI tình yêu lao động, tôn trọng công lý và truyền đạt kinh nghiệm làm ruộng chăn nuôi, đi biển . . .
Thơ trữ tình cũng phát triển với những tên tuổi Tiecte,Minermer, Ximonite, Pindare, Sapho … Đó là những sáng tác thô sơ đầu tiên về tình yêu của con người .
Pindare 20 tuổi đã nổi tiếng thơ, ngày nay còn bốn tập đoản ca, ca ngợi những dũng sĩ chiến thắng đại hội điền kinh ở đấu trường Olympiade, Denph, Isme, Memee. Thơ ông bày tỏ một tâm hồn cao thượng, niềm tự hào và ý chí thống nhất đất nước .
Sapho là nữ thi sĩ duy nhất mừng danh vào khoảng cuối thế kỷ VII tr.CN. Người ta gọi bà là «hiện tượng kì diệu» của thi ca và «nữ thần thơ số 10» . Tình yêu là chủ đề chính của thơ bà.
1.Thời kì thứ nhất (thời thượng cổ), bắt đầu từ
khi có những bút tích văn học đầu tiên đến thế kỷ
V trước công nguyên .

2.Thời kỳ cổ điển (còn gọi Atich) từ chiến tranh
Ba Tư- Hi Lạp đến thế kỷ II tr. CN .

3.Thời kỳ chủ nghĩa Helen (hoặc Alexandre) từ
thế kỷ III đến thế kỷ I tr.CN.
Thanks for watching
Full transcript