Loading presentation...

Present Remotely

Send the link below via email or IM

Copy

Present to your audience

Start remote presentation

  • Invited audience members will follow you as you navigate and present
  • People invited to a presentation do not need a Prezi account
  • This link expires 10 minutes after you close the presentation
  • A maximum of 30 users can follow your presentation
  • Learn more about this feature in our knowledge base article

Do you really want to delete this prezi?

Neither you, nor the coeditors you shared it with will be able to recover it again.

DeleteCancel

Copy of Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển củ

No description
by

Dima Khiem

on 30 October 2016

Comments (0)

Please log in to add your comment.

Report abuse

Transcript of Copy of Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển củ

A. Đặt vấn đề
Theo quan điểm lý luận của triết học Mác- Lênin, LLSX và QHSX là hai mặt của phương thức sản xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau mà tác động biện chứng lẫn nhau hình thành quy luật phổ biến của toàn bộ lịch sử loài người- quy luật về sự phù hợp của QHSX với tính chất và trình độ của LLSX.
B. Nội dung
Nội dung 1: Khái quát chung về quy luật QHSX phù hợp với trình độ của LLSX
II. Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Trong tác phẩm “ Góp phần phê phán khoa kinh tế- chính trị” (năm 1859), Mác đã viết: “ Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người ta có những quan hệ nhất định, tất yếu không phụ thuộc vào ý muốn của họ, tức những quan hệ sản xuất. Những quy luật này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất. Những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất vật chất của họ…” Người ta coi tư tưởng này của Mác là “ Quy luật về sự phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất”.
1. Trình độ lực lượng sản xuất
Trình độ của lực lượng sản xuất nói lên khả năng của con người thông qua việc sử dụng công cụ lao động trong quá trình cải biến tự nhiên nhằm đảm bảo sự sinh tồn và phát triển của mình.
2. Mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất
a) Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ thống nhất biện chứng, trong đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất và quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất.
b) Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ thống nhất có bao hàm khả năng chuyển hóa thành các mặt đối lập và phát sinh mâu thuẫn.
Khi phân tích sự vận động của mâu thuẫn biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, C.Mác đã từng chỉ ra rằng: “ Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất vẫn phát triển . Từ chỗ là những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng xã hội”
NỘI DUNG 2: VẬN DUNG QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚi TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀO CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI KINH TẾ NƯỚC TA
Thank you for watching and listening
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Sự vận dụng quy luật này ở Việt Nam
Sự mâu thuẫn hay phù hợp của quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất đều có ảnh hưởng rất lớn tới nền kinh tế. Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất là một điều kiện tất yếu để phát triển nền kinh tế
Quy luật này hết sức phổ biến trong công cuộc xây dựng Đất Nước của mỗi quốc gia.
Ngày nay, để đưa đất nước ta tiến lên công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xây dựngXHCN là mục tiêu quan trọng, nó đòi hỏi phải có sự nỗ lực của cả dân tộc và sựhợp tác giúp đỡ của quốc tế mới mong đưa công cuộc đổi mới đất nước thành công. Nhưng khi thực hiện đường lối chính sách đề ra chúng ta gặp không ít khó khăn do chưa hiểu rõ về những vấn đề cần giải quyết trước mắt và chưa có đầy đủ những điều kiện cũng như lực lượng để thực hiện đường lối chính sách đã đề ra.
I. Khái niệm , biểu hiện
1. Lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất là tổng hợp các yếu tố vật chất và tinh thần tạo thành sức mạnh thực tiễn cải biên giới tự nhiên theo nhu cầu sinh tồn, phát triển của con người.
Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất phản ánh trình độ
chinh phục giới tự nhiên của con người
=> Trong thời đại ngày nay khoa học phát triển trở thành nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất và đời sống nó đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.

+ Người lao động
Kinh nghiệm, thói quen lao động -> Nhân tố giữ vai trò quyết định
Lênin viết :“
Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, người lao động”.
Giá trị và hiệu quả thực tế của các tư liệu sản xuất phụ thuộc vào trình độ thực tế sử dụng và sáng tạo của người lao động.
+ Tư liệu sản xuất (công cụ lao động)
Nhân tố quan trọng
Khí quan vật chất để nối dài, tiếp thêm sức mạnh của con người trong qu trình lao động
Tiêu biểu cho trình độ con người chinh phục thế giới tự nhiên.
Ví dụ : Nông dân phong kiến với công cụ lao động “Con trâu đi trước cái cày đi sau” năng suất lao động thấp. Ngược lại, hiện nay với sự phát triển của khoa học, công nghệ, người nông dân áp dụng công cụ llao động máy móc vào sản xuất giúp năng suất lao động được cải thiện rõ rệt.
Lực lượng sản xuất gồm :
2. Quan hệ sản xuất
Trong tác phẩm “
Lao động làm thuê và tư bản
”, Mác viết: “
Trong sản xuất người ta không chỉ quan hệ với tự nhiên, người ta không thể sản xuất được nếu không kết hợp nhau theo một cách nào đó để hoạt động chung và trao đổi hoạt động với nhau”.
Muốn sản xuất được người ta phải có mối liên hệ và quan hệ nhất định với nhau và quan hệ của họ với giới tự nhiên tức là việc sản xuất.
Mỗi loại quan hệ sản xuất tiêu biểu cho bản chất kinh tế của một phương thức sản xuất xã hội nhất định.
Tiểu kết
Quan hệ giữa người và tư liệu sản xuất
Tính chất của quan hệ sản xuất trước hết được quy định bởi quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất – Biểu hiện thành chế độ sở hữu.
Quan hệ tổ chức và quản lý kinh doanh sản xuất
Quan hệ giữa người với người trong sản xuất và trong trao đổi vật chất của cải.
Quan hệ phân phối sản xuất sản phẩm
Là quan hệ chặt trẽ với nhau cùng mục tiêu chung là sử dụng hợp lý và có hiệu qủa tư liệu sản xuất để làm cho chúng không ngừng được tăng trưởng, thúc đẩy tái sản xuất mở rộng nâng cao phúc lợi cho người lao động.
Quan hệ sản xuất gồm 3 mặt cơ bản
Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất tức là quan hệ giữa người với tư liệu sản xuất.
Quan hệ tổ chức và quản lý kinh doanh sản xuất
Quan hệ phân phối sản xuất sản phẩm.
Trong các hình thái kinh tế xã hội mà loài người đã từng trải qua đã chứng kiến sự tồn tại của 2 loại hình sở hữu cơ bản đối với tư liệu sản xuất:
sở hữu tư nhân và sở hữu công cộng.
+ Sở hữu công cộng : tài sản chung của cả cộng đồng -> quan hệ hợp tác giúp đỡ nhau
+ Sở hữu tư nhân : tư liệu sản xuất chỉ nằm trong tay một số người -> các quan hệ xã hội do vậy bất bình đẳng.
Các quan hệ có khả năng quyết định một cách quy mô tốc độ hiệu quả và xu hướng mỗi nền sản xuất cụ thể đi ngược lại các quan hệ quản lý và tổ chức có thể làm biến dạng quan hệ sở hữu ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế xã hội.
Là những nhân tố có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự vận động của toàn bộ nền kinh tế.
Thúc đẩy tốc độ và nhịp điệu của sản xuất nhưng ngược lại nó có khả năng kìm hãm sản xuất kìm hãn sự phát triển của xã hội.
Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của lực lượng sản xuất và là cơ sở sâu xa của đời sống tinh thần, xã hội.
Trong cải tạo và củng cố quan hệ sản xuất, vấn đề quan trọng mà đại hội VI nhấn mạnh là phải tiến hành cả 3 mặt đồng bộ, không nên coi trọng một mặt nào cả. Về mặt lí luận, trong hệ thống các quan hệ sản xuất thì quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất luôn có vai trò quyết định với tất cả các mối quan hệ xã hội khác, quan hệ về mặt tổ chức quản lí sản xuất có khả năng quyết định trực tiếp quy mô, tốc độ và hiệu quả xu hướng của mỗi nền sản xuất cụ thể. Bản chất của bất kì quan hệ sản xuất nào cũng đều phụ thuộc vào việc những tư liệu sản xuất chủ yếu trong xã hội thuộc về ai.
Thể hiện trình độ của các công cụ lao động, của các tổ chức lao động xã hội, trình độ ứng dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất, trình độ phân công lao động, kinh nghiệm và kĩ năng lao động của con người.
Nó quyết định đến sự biến đổi của quan hệ sản xuất như Mác đã nói:

Cái cối xay quay bằng tay đưa lại xã hội có lãnh chúa, cái cối xay chạy bằng hơi nước đưa lại xã hội có nhà tư bản chủ nghĩa"
.
Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một trạng thái trong quá trình sản xuất, là hình thức phát triển tất yếu của sản xuất.
(+) Quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất
(+)Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất
Nhóm 8 - K52E1
Nhóm trưởng :
Lê Thị Thanh Mỹ
Thư Ký :
Các thành viên khác :

Xu hướng của sản xuất vật chất là không ngừng phát triển, sự biến đổi bao giờ cũng bắt đầu bằng sự biến đổi của lực lượng sản xuất. Qua nhiều thời kì con người luôn luôn tìm cách cải tạo công cụ lao động và chế tạo công cụ mới -> lực lượng sản xuất trở thành yếu tố động nhất, cách mạng nhất.
Còn quan hệ sản xuất tương đổi ổn định, có khuynh hướng lạc hậu hơn so với sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là
hai mặt cơ bản
, tất yếu của quá trình sản xuất, trong đó lực lượng sản xuất là nội dung vật chất của quá trình sản xuất, còn quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của quá trình đó. Trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức thì nội dung quyết định hình thức, hình thức phụ thuộc vào nội dung, nội dung thay đổi thì hình thức thay đổi theo. Tất nhiên trong quan hệ với nội dung thì hình thức không phải là thụ động, nó cũng tác động trở lại với sự phát triển của nội dung.
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất cũng hình thành và biến đổi phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Sự phù hợp đó là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ. Song, lực lượng sản xuất thường phát triển nhanh còn quan hệ sản xuất có xu hướng ổn định, Khi lực lượng sản xuất phát triển lên một trình độ mới, quan hệ sản xuất cũ không còn phù hợp nữa sẽ nảy sinh mâu thuẫn gay gắt giữa hai mặt của phương thức sản xuất
-> xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ, thay thế bằng một quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ.

Thực tiễn cho thấy rằng lực lượng sản xuất chỉ có thể phát triển khi có một quan hệ sản xuất hợp lí, đồng bộ phù hợp với nó. Quan hệ sản xuất lạc hậu hơn hoặc tiên tiến hơn một cách giả tạo cũng sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất => con người không thể tự do tạo ra bất cứ hình thức nào của quan hệ sản xuất mà mình muốn.
Quan hệ sản xuất chỉ có thể mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển khi mà nó được hoàn thiện về tất cả nội dung của nó, nhằm giải quyết kịp thời những mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất.
Quan hệ sản xuất phải phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong mỗi giai đoạn lịch sử xác định. Quan hệ sản xuất chỉ là hình thức kinh tế xã hội của quá trình sản xuất, còn lực lượng sản xuất là nội dung vật chất, kĩ thuật của quá trình đó.
Lực lượng sản xuất nói lên năng lực thực tế của con người trong quá trình sản xuất tạo nên của cải cho xã hội đảm bảo sự phát triển của con người.
=> Khoa học và công nghệ hiện đại chính là đặc điểm thời đại của sản xuất nó hoàn toàn có thể coi là đặc trưng cho lực lượng sản xuất hiện đại.
Quan hệ sản xuất là do con người tạo ra song nó lại tuân theo những quy luật tất yếu khách quan của sự vận động của đời sống xã hội.
Ba mặt quan hệ trên trong quá trình sản xuất xã hội luôn gắn bó với nhau, tạo thành một hệ thống mang tính ổn định tương đối so với sự vận động không ngừng của lực lượng sản xuất.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã chứng minh rất rõ : Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất thì nó là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển và ngược lại. Theo tính tất yếu khách quan, cuối cùng quan hệ sản xuất ấy sẽ bị thay thế bởi quan hệ sản xuất mới phù hợp hơn với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất để thúc đẩy sự phát triển của nó.
Ví dụ :
Cách mạng tư sản Pháp 1979 đã phá vỡ quan hệ sản xuất phong kiến lỗi thời, tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất tư bản phát triển.
Cách mạng tháng Mười Nga 1917 hình thành nên hệ thống mới: xã hội chủ nghĩa.
Sở dĩ quan hệ sản xuất có thể tác động mạnh mẽ trở lại lực lượng sản xuất vì nó quy định mục đích của sản xuất, quy định hệ thống tổ chức quản lí sản xuất và quản lí xã hội, quy định phương thức phân phối và phần của cải ít hay nhiều mà người lao động được hưởng.
Do đó, nó ảnh hưởng tới thái độ tất cả quần chúng lao động, tạo ra những điều kiện hoặc kích thích, hoặc hạn chế sự phát triển của công cụ sản xuât, áp dụng thành tựu khoa học kĩ thuật vào sản xuất hợp tác phân công lao động quốc tế.
Chính nhờ các cuộc cách mạng xã hội mà những quan hệ sản xuất cũ của xã hội được thay thế bằng những quan hệ sản xuất mới, phù hợp với nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất đã phát triển, tiếp tục phát huy tác dụng tích cực, thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất trong một hình thức quan hệ sản xuất mới.
Mâu thuẫn và sự vận động của mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là nội dung cơ bản của “quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất”. Sự tác động của quy luật này tạo ra nguồn gốc và động lực cơ bản nhất đối với sự vận động, phát triển của phương thức sản xuất, nền sản xuất vật chất và do đó là sự vận động, phát triển của toàn bộ đời sống xã hội.
1. Quá trình nhận thức quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất của Đảng ta trong sự nghiệp đổi mới đất nước
2. Sự vận dụng quy luật trong giai đoạn hiện nay theo đinh hướng xã hội chủ nghĩa
Nền kinh tế nước ta đi lên từ một nền nông nghiệp lạc hậu, lực lượng sản xuất ở trình độ thấp kém, nền công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn gặp rất nhiều khó khăn.
Đảng và nhà nước
Nền kinh tế của nước ta bị ảnh hưởng nặng nề bởi chiến tranh.
Đảng và nhà nước đã đề ra những phương hướng nhất định để đưa nền kinh tế đi lên
Giai đoạn đầu chúng ta đã áp đặt chủ quan một quan hệ sản xuất không phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất
Ra sức vận động nhân dân đi vào hợp tác xã, mở rộng các nông trường quốc doanh , các nhà máy xí nghiệp lớn mà không tính đến trình độ của lực lượng sản xuất còn quá thấp kém.
Tạo ra những quy mô lớn và ngộ nhận là đúng, là đã có quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, và coi rằng mỗi bước cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới đều thúc đẩy sự ra đời và lớn mạnh của lực lượng sản xuất mới, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa có khả năng “vượt trước”, mở đường cho sự phát triển của lực lượng
sản xuất.
Hàng kém chết lượng
Không thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng
Lao động thờ ơ
Đời sống khó khăn
Không cạnh tranh được với hàng ngoại
Quan điểm quan hệ sản xuất đi trước là không đúng. Đó là một trong những bài học lớn mà Nghị quyết đại học đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng tháng 12/1986 đã chỉ rõ. Đảng đã nhấn mạnh và khẳng định lại mục tiêu đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất và của nền kinh tế nước ta: “ Từ nay đến năm 2020 ra sức phấn đấu đưa đất nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Lực lượng sản xuất lúc đó sẽ đạt đến trình độ tương đối hiện đại, phần lớn lao động thủ côngđược thay thế bằng máy móc…”
Việt Nam
Dân số đông -> thất nghiệp
Máy móc thô sơ
Mở các trường dạy nghề, đào tạo lao động, giúp người lao động có chuyên môn kĩ thuật và năng lực quản lí cao.
chấm dứt hoàn toàn cơ chế hành chính tập trung, quan liêu , bao cấp, chuyển dần kinh tế sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
khuyến khích phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, mở rộng quan hệ kinh tế với các nước, các khu vực trên thế giới, khuyến khích mọi người làm giàu trong khuôn khổ luật pháp cho phép.
Full transcript