Loading presentation...

Present Remotely

Send the link below via email or IM

Copy

Present to your audience

Start remote presentation

  • Invited audience members will follow you as you navigate and present
  • People invited to a presentation do not need a Prezi account
  • This link expires 10 minutes after you close the presentation
  • A maximum of 30 users can follow your presentation
  • Learn more about this feature in our knowledge base article

Do you really want to delete this prezi?

Neither you, nor the coeditors you shared it with will be able to recover it again.

DeleteCancel

Make your likes visible on Facebook?

Connect your Facebook account to Prezi and let your likes appear on your timeline.
You can change this under Settings & Account at any time.

No, thanks

Untitled Prezi

No description
by

Bảo Trân Đỗ

on 5 April 2014

Comments (0)

Please log in to add your comment.

Report abuse

Transcript of Untitled Prezi

Môn học: Kinh tế phát triển
GV: ThS. Phạm Mỹ Duyên

1.Khái niệm
Căn bệnh Hà Lan là một hiện tượng thường xảy ra ở các nước đang phát triển mà ở đó việc khai thác tài nguyên thiên nhiên xuất khẩu thường hủy hoại sự phát triển của khu vực sản xuất.

Nguyên nhân chính là do các nguồn lực từ tài nguyên đã làm giảm tỷ giá hối đoái thực (tăng giá ngoại tệ) và từ đó làm cho khu vực sản xuất trở nên kém cạnh tranh hơn. Ban đầu căn bệnh Hà Lan chỉ đề cập tới việc khai thác tài nguyên nhưng sau này nó đề cập tới mọi nguồn thu ngoại tệ khổng lồ, bao gồm cả việc tăng giá hàng xuất khẩu và vốn đầu tư nước ngoài
 Indonesia đối mặt với “căn bệnh Hà Lan”
Cũng như Nigieria, Indonesia cũng nhận được một khoản “windfall” khi giá dầu bùng nổ khiến GDP tăng 16% không kể khai khoáng (1973-1974) và tăng 23% trong năm 1979-1980
Final Destination
Nền kinh tế Nigeria và “Lời nguyền của dầu mỏ”
Nigeri đứng thứ 10 trên thế giới về sản lượng dầu mỏ, nhưng thay vì một hình ảnh là quốc gia giàu có và thịnh vượng như các nước khối OPEC, thế giới lại chỉ biết đến một Nigeria như một quốc gia xơ xác vì những xung đột tranh dành dầu mỏ đẫm máu
LÝ LUẬN CHUNG VỀ “CĂN BỆNH HÀ LAN”
2. Nguồn gốc:
Vào những năm 1960, trong quá trình thăm dò, các nhà địa chất đã phát hiện một nguồn khí đốt với trữ lượng rất lớn ở vùng biển Bắc. Chính phủ Hà Lan đã quyết định khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên này, từ năm 1973 đến năm 1978 Hà Lan xuất khẩu một lượng khí đốt lớn làm tăng 10% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu và tăng 4% GNP.

Chính phủ Hà Lan đã tăng chi tiêu ngân sách, đầu tư vào nhiều lĩnh vực kém hiệu quả, sản xuất hàng hoá phi ngoại thương không có sức cạnh tranh thay vì tiếp tục tập trung đầu tư cho nông nghiệp và điện tử…
HẬU QUẢ:

Lạm phát tăng, xuất khẩu các ngành sản xuất truyền thống như sản phẩm nông nghiệp và hàng điện tử giảm sút, chi phí sản xuất trong nước tăng lên, đồng đôla trên thị trường trong nước bị sụt giá, tỷ lệ tăng trưởng thu nhập thấp, tỷ lệ thất nghiệp tăng… Những điều này làm cho tỉ lệ lạm phát tăng từ 2% năm 1970 lên 10% năm 1975 và tốc độ tăng GNP giảm từ 5% xuống còn 1%.
“Căn bệnh Hà Lan” không chỉ xảy ra đối với riêng Hà Lan mà còn phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển. Nguyên nhân chủ yếu là do phát hiện ra một nguồn tài nguyên lớn hay giá một số mặt hàng xuất khẩu tăng lên đột ngột hoặc nguồn vốn đầu tư quá lớn được đổ vào nền kinh tế. Tuy nhiên vì không có chính sách sử dụng hữu hiệu nên những nguồn lợi to lớn đó lại trở thành con dao hai lưỡi làm thương tổn nền kinh tế.
3. Quá trình hình thành Căn bệnh Hà Lan
 Tác động chi tiêu (Resource Spending Effect)
Đồng nội tệ lên giá, đồng ngoại tệ giảm giá, hàng hóa trong nước tăng giá tương đối so với thế giới. Ngành công nghiệp xuất khẩu bị giảm khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới; hàng hóa nhập khẩu trở lên rẻ hơn bao giờ hết, xuất hiện tràn ngập ở thị trường trong nước và người dân đổ xô đi mua hàng nhập khẩu, nền sản xuất trong nước bị thất bại do không cạnh tranh được ngay trên chính thị trường của mình.
 Tác động lôi kéo nguồn lực (Resource Movement Effect)
Nông nghiệp ít được chú trọng làm cho chất lượng và năng suất giảm. Công nghiệp khai khoáng tài nguyên phát triển, thu nhập từ các ngành này tăng lên thu hút một bộ phận lớn lao động từ các khu vực nông nghiệp và các ngành công nghiệp khác chuyển sang
Tác động của "Căn bệnh Hà Lan"
Kết quả:
lượng nhập khẩu tăng mạnh; ngành hàng xuất khẩu phi tài nguyên giảm xuống rõ rệt.

Kết quả:
Một số ngành thì cung lao động quá nhiều, một số ngành thì thiếu hụt lao động trầm trọng. Nền kinh tế bị mất ổn định, sản xuất trì trệ
Tác hại đối với nền kinh tế:
Lạm phát gia tăng
Thu nhập quốc dân (GDP) giảm xuống
Tỷ trọng xuất khẩu giảm xuống - nhập khẩu tăng lên
Áp lực việc làm gia tăng, nền kinh tế đình đốn, tiêu điều
Kiểm soát chi tiêu để tránh lạm phát
Kiểm soát tỷ giá hối đoái
Biện pháp
THỰC TRẠNG “CĂN BỆNH HÀ LAN” Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
Đầu những năm 1970, khi Nigeria phát hiện ra trữ lượng dầu mỏ khổng lồ thì đây là nguồn tài nguyên quan trọng bậc nhất đối nền kinh tế cúa đất nước này. Việc khai thác dầu để xuất khẩu đã đem lại cho Nigeria một lượng ngoại tệ cực kì lớn bởi 90% kim ngạch xuất khẩu của nước này là từ xuất khẩu dầu
VẤN ĐỀ
TÀI NGUYÊN
VẤN ĐỀ VỐN
Kim ngạch xuất khẩu tài nguyên tăng sẽ cho phép một quốc gia nhập khẩu nhiều hơn. Tiềm năng nhập khẩu cao hơn không chỉ góp phần nâng cao mức sống vì người tiêu dùng có nhiều cơ hội lựa chọn hơn, mà đặc biệt còn cho phép mua sắm nhiều tư liệu sản xuất hơn.

Xuất khẩu tài nguyên tăng sẽ có xu hướng làm tăng tỷ giá hối đoái và/hoặc tăng mức lương chung, từ đó tạo ra áp lực đối với năng lực cạnh tranh của các ngành thương mại khác trong nền kinh tế.
Biểu đồ 1: Tổng thu nhập của Nigeria dựa vào dầu
Biểu đồ 3: Tỉ trọng dầu mỏ và nông nghiệp trong nền kinh tế Nigeria
Biểu đồ 4: Tỉ lệ tăng trưởng GDP thực của Nigeria giai đoạn 1966- 1986
Đối mặt với nguy cơ "Căn bệnh Hà Lan", Chính phủ nước này đã thi hành các chính sách hợp lí:
Chính phủ đã kịp thời phá giá đồng tiền rồi thả nổi tỷ giá
Thực hiện chính sách phát triển bền vững bằng chính sách thu hẹp tài khóa
Đảm bảo ngân sách chính phủ cân bằng và cam kết dự trữ ngoại hối hợp lý
Bảng 1
Mức tăng trưởng kinh tế của một số nước châu Á giai đoạn 1961-1996
Khi các nguồn ngoại tệ từ các nước phát triển được đưa đến cho các nước nghèo
đói và các nước đang phát triển tăng vọt, nếu không có chính sách sử dụng, quy hoạch thu hút, quản lý hiệu quả các luồng tiền này để xảy ra tình trạng thất thoát, lãng phí; xây dựng chiến lược, quy hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA vào các lĩnh vực chưa hợp lý; trình độ quản lý thấp, thiếu kinh nghiệm trong quá trình tiếp nhận cũng như xử lý, điều hành dự án…

=> Gây áp lực lên tỷ giá, lạm phát gia tăng, giá
hàng hóa trong nước tăng lên khiến cho hiệu quả và chất lượng các công trình đầu tư bằng nguồn vốn này thấp, cán cân thương mại xấu đi, đẩy nước tiếp nhận ODA vào tình trạng nợ nần, vấn đề khủng hoảng nợ
Ghana hiện đang nhận được viện trợ theo các hình thức khác nhau, bao gồm hỗ trợ ngân sách chung, hỗ trợ ngân sách ngành (chủ yếu là y tế và giáo dục), và dự án hỗ trợ sử dụng các hệ thống song song.

Do chưa có các chính sách hợp lí, "Căn bệnh Hà Lan" đã xảy ra đem đến nhiều hậu quả:
Các thành tựu xóa đói giảm nghèo bị vô hiệu hóa, gia tăng bất côngxã hội, làm giàu cho một bộ phận lãnh đạo, cản trở việc xúc tiến quá trình dân chủ hóa,
Người dân vẫn đối mặt với đói nghèo, dịch bệnh, mù chữ, gánh nặng nợ nần, xung đột triền miên…
Quen với thái độ ỷ lại, trông chờ vào các nguồn viện trợ và khai thác tài nguyên sẵn có

Trường hợp nghiên cứu: Ghana
Đề tài:
CĂN BỆNH HÀ LAN Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ LIÊN HỆ VIỆT NAM
Full transcript