Loading presentation...

Present Remotely

Send the link below via email or IM

Copy

Present to your audience

Start remote presentation

  • Invited audience members will follow you as you navigate and present
  • People invited to a presentation do not need a Prezi account
  • This link expires 10 minutes after you close the presentation
  • A maximum of 30 users can follow your presentation
  • Learn more about this feature in our knowledge base article

Do you really want to delete this prezi?

Neither you, nor the coeditors you shared it with will be able to recover it again.

DeleteCancel

Make your likes visible on Facebook?

Connect your Facebook account to Prezi and let your likes appear on your timeline.
You can change this under Settings & Account at any time.

No, thanks

Văn hóa Tây Âu thời kì Phục Hưng

No description
by

My Krilly

on 15 December 2013

Comments (0)

Please log in to add your comment.

Report abuse

Transcript of Văn hóa Tây Âu thời kì Phục Hưng

Văn hóa Tây Âu thời kì Phục Hưng
1. Điều kiện lịch sử
Nhóm 1
Hoàng Minh Trang

Lai Quỳnh Châu

Nguyễn Đoàn Huyền My

Đỗ Hồng Trà My

Trần Hà Anh

1.

Điều kiện lịch sử

2.
Những thành tựu chính

Văn học
Nghệ thuật
Khoa học tự nhiên và triết học

3.
Nội dung tư tưởng và ý nghĩa
3. Nội dung tư tưởng và ý nghĩa
2. Các thành tựu chính
Điều kiện chủ yếu dẫn đến sự ra đời của phong trào văn hóa Phục hưng là do sự xuất hiện quan hệ tư bản chủ nghĩa. Trong khi đó, những thành tự về văn hóa từ thế kỉ XI-XIII còn xa mới đáp ứng được nhu cầu của giai cấp tư sản mới ra đời, đồng thời cho đến lúc bấy giờ, tư tưởng tình cảm con người vẫn bị ràng buộc bởi hệ tư tưởng khắt khe của giáo hội Thiên chúa. Do vậy giai cấp tư sản cần phải có hệ tư tưởng của mình và để đấu tranh với hệ tư tưởng lỗi thời của giáo hội quý tộc phong kiến đang cản trở sự phát triển của xã hội.
Ý trở thành quê hương đầu tiên của phong trào Văn hóa Phục hưng
là vì:

- Tuy bị phân tán về chính trị nhưng do những điều kiện thuận lợi về địa lí, quan hệ tư bản chủ nghĩa ở đây ra đời sớm nhất.

- Ý vốn là quê hương của nên văn minh La Mã cổ đại, do đó cho đến bây giờ, ở đây còn giữ lại được nhiều di sản văn hóa về các mặt kiến trúc, điêu khắc, văn học,…

- Do kinh tế phát triển, trong các nước cộng hòa, thành thị Ý đã xuất hiện một tầng lớp rất giàu có. Họ đã xây dựng nhiều lâu đài tráng lệ được trang sức bằng những tác phẩm nghệ thuật có giá trị => khuyến khích rất lớn đối với sự sáng tạo nghệ thuật của các nghệ sĩ.
Đến thế kỉ XV và nhất là thế kỉ XVI chủ nghĩa tư bản cũng ra đời ở Anh và tiếp đó là các nước Tây Âu khác như Pháp, Tây Ban Nha, Nêđéclan, Đức,… Vì vậy, phong trào Văn hóa Phục hưng có điều kiện phát triển sang các nước Tây Âu khác.

Thực chất của phong trào Văn hóa Phục Hưng là
cuộc đấu tranh giữa tư bản và giáo hội phong kiến
a. Văn học
b. Nghệ thuật
c. Khoa học tự nhiên và triết học
Thơ
Tiểu thuyết
Là một bước nhảy vọt về văn hóa, phong trào văn hóa Phục hưng đã đạt được những thành tự rực rỡ về mọi mặt, đặc biệt là về văn học nghệ thuật.
Nền văn học thời Phục hưng về cả ba thể loại thơ, tiểu thuyết và kịch đều có những tác phẩm có giá trị gắn liền với tên tuổi nhiều tác giả nổi tiếng.
Kịch
-
Rabơle (Francisco Rabelais 1494-1558)
lúc còn nhỏ đi tu, sau ra khỏi tu viện học ngành y và khoa học tự nhiên đã từng làm thầy thuốc. Ông còn tinh thông về các mặt văn học, triết học, pháp luật, thực vật học, kiến trúc. Tác phẩm chủ yếu của ông là tiểu thuyết trào phúng
Gácgăngchuya và Păngtagruyen
(Gargantua and Pantagruel - còn gọi là Truyện Người Khổng lồ, gồm năm tập. Gargantua và Pantagruel là tập 1 và tập 2)
Về lĩnh vực này trước hết phải kể đến
Boccacio (1313-1375)
, nhà văn Ý được đặt ngang hàng với hai nhà thơ Dante và Pêtơraca và được gọi chung là “Ba tác giả lỗi lạc”. Tác phẩm nổi tiếng của ông là tập truyện ngắn
Mười ngày (Decameron)
-
Xécvăngtét (Miguel de Cervantes 1546-1616)
là một nhà văn lớn và là người đặt nền móng cho nền văn học mới ở Tây Ban Nha. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, đồng thời cũng là một kiệt tác của nền văn học thế giới là
Đông Kisốt hay Đôn Kiôtê (Don Quichotte)
.
Gargantua
Phục Hưng
Nhà thơ nổi tiếng nhất đồng thời là người mở đầu cho phong trào Văn hóa Phục hưng là
Dante (1265-1321)
. Tác phẩm trong thời kì đầu của ông là
“Cuộc đời mới”.
Đây là tác phẩm Đantê viết để tưởng nhớ người bạn gái thời thơ ấu của ông là Bêatơrít (Beatrice).
Ngoài Dante còn có nhà thơ trữ tình
Pêtơraca (Petrarca 1304-1374)
là nhà thơ Ý được xem như ông tổ của thơ mới châu Âu. Thi phẩm của ông là tập thơ ca ngợi tình yêu tặng nàng Lôra, người mà ông yêu suốt đời và trở thành bất tử trong thơ của ông.
Tác phẩm lớn nhất của Dante là
Thần khúc (La Divina commedia)
. Tác phẩm này ông đã viết trong suốt 20 năm sống lưu vong, cho đến khi chết vẫn chưa hoàn thành trọn vẹn. toàn bộ tập thơ gồm 100 chương, ngoài chương lời tựa, nội dung chính chia làm ba phần là địa ngục, tĩnh giới (nơi rửa tội) và thiên đường, mỗi phần gồm 33 chương.
Rabơle
Dante
Đan tê và Bêtơrít (Áo vàng)
Dante tay cầm bản Thần khúc, bên cạnh là cổng vào Địa ngục, bảy tầng Núi Luyện Ngục, và thành phố Florence, với thiên cầu Địa Đàng phía trên, trong bức họa của Michelino
Pêtơraca và tập thơ ca ngợi tình yêu tặng nàng Lôra
Xécvăngtét và tác phẩm “Đônkihôtê”
Tác giả tiêu biểu của nghệ thuật kịch thời Phục hưng, đồng thời là người tiêu biểu cho nền văn hóa Anh thời kì này là
Sếchxpia
(William Shakespeare 1564-1616).

Trong 20 năm hoạt động sáng tác (1592-1612) Sếchxpia đã để lại 36 vở kịch gồm
hài kịch
(như các vở Đêm thứ mười hai, Theo đuổi tình yêu vô hiệu, Người lái buôn thành Venezia),
bi kịch
(như các vở Romeo và Juliet, Hamlet, Othello, Vua Lear, Macbeth,…),
kịch lịch sử
(như Richard II, Richard III, Henry IV,…)
Hài kịch
Bi kịch
Kịch lịch sử
William Shakespeare
"Đêm thứ mười hai" và “Người lái buôn thành Vênêxia”
Vở kịch “Romeo & Juliet” và vở kịch “Hamlet”
Risớt II (Richard II)” và “Henry V”
Bốttixenli
được gọi là “nhà thơ họa sĩ”. Các tác phẩm
Sự ra đời của thần Venus, Mùa xuân
,… của ông mang đầy chất thơ nhờ nhân vật xinh đẹp, dịu dàng, màu sắc hài hòa…
Leonardo da Vinci (1452-1519)
sinh ở thành phố Vinci gần Fizenre, xuất thân trong một gia đình trung lưu.

Đặc điểm nghệ thuật hội họa của Leonardo da Vinci là thiên về mô tả tính cách và hoạt động nội tâm của nhân vật. những tác phẩm tiêu biểu của ông là
Bữa tiệc cuối cùng, Đức mẹ Đồng trinh trong hang đá, Nàng Giôcông (La Gioconda hay còn biết đến là Mona Lisa)
Cũng như văn học, Ý mà trước hết là Firenze là nơi xuất phát đầu tiên của nền nghệ thuật thời Phục hưng. Giotto là người mở đầu cho xu hướng hiện thực chủ nghĩa trong hội họa
Chủ nghĩa hiện thực
, không những vì các nhân vật trong sinh động mà còn vì
họa pháp lập thể
do ông thể hiện.
Chủ nghĩa hiện thực
là trào lưu nghệ thuật lấy hiện thực xã hội và những vấn đề có thực của con người làm đối tượng sáng tác. Chủ nghĩa hiện thực hướng tới cung cấp cho công chúng nghệ thuật những bức tranh chân thực, sống động, quen thuộc về cuộc sống, về môi trường xã hội xung quanh.
Họa pháp lập thể
có nghĩa là người họa sỹ không quan sát đối tượng ở một góc nhìn cố định mà lại đồng thời phân chia thành nhiều mặt khác nhau, nhiều khía cạnh khác nhau. Thông thường các bề mặt, các mặt phẳng giao với nhau không theo các quy tắc phối cảnh làm cho người xem khó nhận ra chiều sâu của bức tranh.
Maxasiô
mặc dầu chết yểu (27 tuổi), nhưng ông là người đã phát triển chủ nghĩa hiện thực trong hội họa thêm một bước, đồng thời là người phát hiện ra
quy luật viễn cận,
đó là

phương pháp vẽ khoảng cách xa gần của các vật thể nằm trong không gian ba chiều lên mặt phẳng hai chiều. Tác phẩm tiêu biểu của ông là
Adam và Eva bị đuổi khỏi thiên đường
.

Tượng Giotto
Maxasiô (Masaccio)
“Adam và Eva bị đuổi khỏi thiên đường” Trước và sau khi được phục chế
Bốttixenli (Botticelli)
Sự ra đời của thần Venus
Mùa xuân
Đức mẹ đồng trinh trong hang đá
Mona Lisa
Bữa tiệc cuối cùng
Michelangelo
(Miken Lăng giơ 1474-1564) sinh ở Tôxcan (Ý) là một họa sĩ, một nhà điêu khắc nổi tiếng, đồng thời là một kiến trúc sư và là một thi sĩ.
Mikenlangelo
Về hội họa, tác phẩm tiêu biểu biểu nhất của ông là
Sáng tạo thế giới

Cuộc phán xét cuối cùng
.
Về điêu khắc, các bức tượng David, Môidơ, Đêm, Người nô lệ bị trói, v.v… là những tác phẩm tiêu biểu, đặc biệt là tượng David tạc bằng đá cẩm thạch, cao 5,3m. Khác với với thần thoại trong kinh thành, Michelangelo không thể hiện David thành một thiếu niên mà thành một lực sĩ đầy sức mạnh. Vì vậy năm 1504, tượng này được dựng tại một quảng trường ở Firenze để thể hiện tinh thần của kẻ thống trị phải anh dũng bảo vệ thành phố.
Về kiến trúc, ông cũng là người thiết kế đầu tiên
nhà thờ Saint Pierre
ở La Mã. Ngoài ra còn có
Quảng trường Piazza del Campidoglio
cũng do ông thiết kế
Sáng tạo thế giới
Cuộc phán xét cuối cùng
Nhà thờ Xanh Pie
Piazza del Campidoglio
Raffaello (Raphaen 1483-1520)
cũng là một họa sĩ thiên tài của Ý. Tuy ông chết tương đối sớm (37 tuổi) nhưng ông đã để lại nhiều nhiều tác phẩm nổi tiếng như
Cô gái làm vườn xinh đẹp
, các bức tranh vẽ về thánh mẫu,…. Ông là một họa sĩ có sở trường về vẽ chân dung, đặc biệt là thể hiện được một cách sống đọng vẻ đẹp tươi tắn của các cô gái, vẻ hiền hậu dịu dàng của người mẹ và nét ngây thơ đáng yêu của các em bé.
Raphaen (Raffaello) và bức tranh Cô gái làm vườn xinh đẹp
Ngoài Ý, từ thế kỉ XVI về sau, các nước Phlăngđơ, Hà Lan, Đức Pháp,… cũng có nhiều họa sĩ nổi tiếng như Mátxít (Quentin Matsys) người Phlăngđơ, Lucát đơ Lâyđơ người Hà Lan, Anbrết Đuyrê (Albrecht Diirer) người Đức, Lơ Nanh (Le Nain) người Pháp v.v… Đề tài của các tác phẩm của họ thường là những cảnh đẹp trong thiên nhiên, những hoạt động trong đời sống hàng ngày của những con người bình thường mà bức tranh “Bữa ăn của những người nông dân” của Lơ Nanh là một ví dụ tiêu biểu.
Bữa ăn của những người nông dân
a. Nội dung tư tưởng
Tư tưởng chủ đạo của phong trào Văn hóa phục hưng là “chủ nghĩa nhân văn” (humanisme). Đó là hệ tư tưởng chú trọng đến con người, chú ý đến cuộc sống hiện tại, chủ trương cho con người được quyền hưởng mọi lạc thú ở đời, do đó nó hoàn toàn đối lập với quan niệm của giáo hội Thiên Chúa chỉ sùng bái Chúa, chỉ chú ý đến cuộc sống của linh hồn sau khi chết ở Thiên đàng và đề xướng chủ nghĩa cấm dục.
Dưới sự chỉ đạo của hệ tư tưởng mới ấy, tính chất cách mạng của phong trào Văn hóa phục hưng thể hiện ở các mặt sau đây:
Ngoài những nội dung chủ yếu nói trên, một số nhà nhân văn chủ nghĩa thế kỉ XVI, tức là khi chủ nghĩa tư bản đã ra đời phổ biến ở Tây Âu như Xécvăngtét, Sếchxpia cũng đã bắt đầu thấy được xã hội quá đề cao vai trò của đồng tiền cũng không lấy gì làm tốt đẹp.
Ăng ghen viết: “Sát cánh với các vĩ nhân người Ý, thủy tổ của triết học cận đại, khoa học tự nhiên cũng đã phải cung cấp những người của nó cho cái lò thiêu và ngục tối của tòa án Tôn giáo”.
- Lên án, đả kích, châm biếm sự tàn bạo dốt nát, giả nhân giả nghĩa của các giáo sĩ giáo hoàng đến các tu sĩ và của giai cấp quý tộc phong kiến.
- Chống lại quan niệm của giáo hội về con người và cuộc sống trần gian.
- Chống những quan điểm phản khoa học và chủ nghĩa duy tâm.
- Đề cao tinh thần dân tộc, tình yêu đối với Tổ quốc và tiếng nói của nước mình.
b. Ý nghĩa
- Bằng tinh thần đấu tranh dũng cảm bất chấp lò thiêu và ngục tối của toàn án tôn giáo, các chiến sĩ trên mặt trận văn hóa thời Phục hưng đã đánh bại hê tư tưởng lỗi thời của phong kiến và giáo hội Thiên chúa, do đó đã giải phóng tư tưởng tình cảm con người khỏi mọi sự kìm hãm và trói buộc của giáo hội. Từ đó chủ nghĩa nhân văn với các nội dung nhân quyền, nhân tính, cá tính ngày càng giữ vai trò chi phối không những về văn học nghệ thuật mà cả trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
- Sau một nghìn năm chìm đắm, phong trào Văn hóa Phục hưng là một bước tiến diệu kì trong lịch sử văn minh ở Tây Âu. Các văn nghệ sĩ, các nhà khoa học, triết học đã đóng góp trí tuệ và tài năng tuyệt vời của mình vào phong trào văn hóa đó bằng những tác phẩm và công trình bất hủ, do đó đã làm phong phú thêm kho tàng văn hóa nhân loại. Hơn nữa những công trình văn hóa đó là nhiều mặt về chuẩn mực, là sự mở đầu cho đời sau noi theo, chẳng hạn như việc khai thác đề tài trong cuộc sống hiện thực, chú ý đến vẻ đẹp của con người nhất là phụ nữ trên lĩnh vực văn học nghệ thuật, hoặc như việc phát minh ra cách vẽ tranh sơn dầu, luật viễn cận, luật sáng tối trên lĩnh vực hội họa, hoặc như những quan điểm mới về thiên văn học, những phát minh về y học..v.v.. Như vậy, phong trào Văn hóa phục hưng đã đặt cơ sở và mở đường cho sự phát triển của Tây Âu trong những thế kỉ tới.
Đồng thời với Galilê, nhà thiên văn học Đức
Kepler (1571-1630)
đã phát minh ra 3 quy luật quan trọng về sự vận hành của các hành tinh xung quanh mặt trời.

1. Các hành tinh chuyển động quanh Mặt trời theo các quỹ đạo hình elíp với Mặt trời nằm ở một tiêu điểm.
2. Đường nối một hành tinh với Mặt trời quét qua những diện tích bằng nhau trong những khoảng thời gian bằng nhau.
3. Bình phương chu kỳ quỹ đạo của một hành tinh tỷ lệ với lập phương bán trục lớn của quỹ đạo elip của hành tinh đó..
Hình học giải tích của các nhà toán học Pháp
Đêcáctơ
(1596-1650), áp lực của chất lỏng của nhà vật lí học Ý
Tôrixeli
(1608-1647), thuật giải phẫu của nhà y học Nêđéclan
Vêdalơ
(1514-1564), sự tuần hoàn máu của nhà y học Anh
Harvey
(1578-1657)..v.v..
Triết học, khảo cứu
- Người mở đầu cho trường phái triết học duy vật thời Phục hưng là
Phranxít Bâycơn (Francis Bacon 1561-1626)
nhà triết học người Anh.

- Ngoài ra còn có nhiều học giả giỏi cổ văn đã tập trung sức lực vào công việc khảo cứu mà trong đó tiêu biểu nhất là
Vala (1407-1457)
người Ý. Ông đã chứng minh rằng “Bức thư trao tặng hoàng đế Cônxtăngtinút” là một văn kiện giả do tòa thánh La Mã ngụy tạo ra từ thế kỉ IX.
Người tích cực hưởng ứng học thuyết của Côpécních là nhà thiên văn học và là nhà triết học Ý
Gioócđanô Bruno (1548-1600)
. Ông cũng vốn là một giáo sĩ, nhưng trong khu giáo hội cấm lưu hành tác phẩm của Côpécních thì ông lại phát triển thêm một bước cho rằng vũ trụ là vô tận, mặt trời không phải là trung tâm của vũ trụ mà chỉ là trung tâm của Thái dương hệ chúng ta, ngoài ra còn có rất nhiều thái dương hệ khác. Ông còn chứng minh rằng vật chất luôn luôn vận động, luôn luôn biến đổi và tồn tại vĩnh viễn.
Thuyết nhật tâm:

Trong thiên văn học, mô hình nhật tâm là lý thuyết cho rằng Mặt Trời nằm ở trung tâm của vũ trụ và/hay của Hệ Mặt Trời. Về mặt lịch sử, hệ nhật tâm đối lập với hệ địa tâm và hiện nay là với thuyết địa tâm hiện đại, cho rằng Trái Đất nằm ở trung tâm. (Sự phân biệt giữa Hệ Mặt Trời và Vũ trụ là không rõ ràng cho tới tận thời hiện đại, nhưng đặc biệt quan trọng cho sự tranh cãi về vấn đề vũ trụ học và tôn giáo.) Trong thế kỷ 16 và 17, khi lý thuyết này được Côpécních, Galili và Kepler đưa ra và ủng hộ, nó trở thành trung tâm của một cuộc tranh cãi lớn.

Nhà bác học lớn mở đầu cho một bước nhảy vọt về khoa học tự nhiên thời Phục hưng là
Nicôla Côpécních (1473-1543)
. Qua nhiều năm nghiên cứu, ông đã nêu ra một thuyết về vũ trụ chống lại thuyết của nhà thiên văn học cổ đại Plôlêmê đã ngự trị ở châu Âu suốt 14 thế kỉ. Plôlêmê cho rằng quả đất đứng yên ở trung tâm vũ trụ, mặt trời và các hành tinh quay quanh xung quanh trái đất. Trái lại, Côpécních cho rằng trung tâm của vũ trụ không phải là trái đất mà là mặt trời, không phải mặt trời quay quanh trái đất mà là trái đất tự quay xung quanh nó và quay xung quanh mặt trời; thể tích của quả trái đất nhỏ hơn thể tích của mặt trời rất nhiều.
Chân dung của Côpécních và Tác phẩm “Bàn về sự vận hành của các thiên thể”
Bruno
Một nhà thiên văn học Ý khác là
Galilê (1564-1642)
tiếp tục phát triển quan điểm của Côpécních và Bruno. Ông là người đầu tiên dùng kính viễn vọng phóng to gấp 30 lần để quan sát bầu trời. Ông đã chứng minh rằng mặt trăng cũng là một hành tinh giống như quả đất, bề mặt của nó cũng có núi non gồ ghề chứ không phải nhẵn bóng. Ông còn phát hiện được thiên hà là vô số vì sao tạo thành, giải thích được cấu tạo của sao chổi. Ông cũng là người mở đầu cho ngành khoa học thực nghiệm, phát hiện ra các định luật rơi thẳng đứng và dao động của các vật thể.
Galile
Kêplơ
Thiên văn học
Các lĩnh vực khác
Francis Bacon
Lorenzo Valla
Full transcript