Loading presentation...

Present Remotely

Send the link below via email or IM

Copy

Present to your audience

Start remote presentation

  • Invited audience members will follow you as you navigate and present
  • People invited to a presentation do not need a Prezi account
  • This link expires 10 minutes after you close the presentation
  • A maximum of 30 users can follow your presentation
  • Learn more about this feature in our knowledge base article

Do you really want to delete this prezi?

Neither you, nor the coeditors you shared it with will be able to recover it again.

DeleteCancel

Make your likes visible on Facebook?

Connect your Facebook account to Prezi and let your likes appear on your timeline.
You can change this under Settings & Account at any time.

No, thanks

Thực trạng về lãi suất tại Việt Nam

No description
by

Jo Bé-tí

on 23 January 2015

Comments (0)

Please log in to add your comment.

Report abuse

Transcript of Thực trạng về lãi suất tại Việt Nam

Thực trạng về điều hành quản lý lãi suất tại Việt Nam

Một số biện pháp khắc phục
Hoàn thiện hệ thống ngân hàng
Một số biện pháp khắc phục
Phải tăng khả năng quản lý, giám sát của ngân hàng để tránh và xử lý kịp thời những trường hợp lợi dụng chính sách ưu đãi của Nhà nước để hưởng ưu đãi từ gói kích cầu không đúng với quy định ví dụ như tình trạng đảo nợ, đầu tư vào thị trường chứng khoán gây tình trạng thị trường bong bóng.
Tăng năng lực hấp thụ vốn của nền kinh tế bằng cách tạo thị trường tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ cho doanh nghiệp (xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng, DN linh hoạt trong marketing, liên kết giữa các DN…)
Kết hợp chặt chẽ CS ưu đãi về LS với CS tỷ giá.
Về phía DN: tự thân mỗi DN phải nỗ lực để nâng cao năng lực. Đặc biệt DN phải minh bạch về tài chính, giữ tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn ở mức an toàn. DN phải thuyết phục ngân hàng vềhiệu quảkinh doanh một cách rõ ràng của dựán đầu tư.
Một số biện pháp khắc phục
Về việc xác định lãi suất cơ bản nhằm điều hành chính sách lãi suất nói chung: cần được xem xét tính toán và công bố định kì đảm bảo phù hợp với tín hiệu thị trường về cung- cầu vốn đầu tư và các yêu cầu khác về thực thi các mục tiêu của chính sách tiền tệ.
Thúc đẩy phát triển thị trường nội tệ và ngoại tệ liên ngân hàng, lấy đó làm căn cứ để xây dựng và thiết lập mặt bằng lãi suất chung theo lãi suất qua đêm hoặc lãi suất chiết khấu, làm cơ sở cho các mức lãi suất thị trường tự do sau này.
Đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá làm cơ sở cho việc ra đời các hàng hoá trao đổi trên thị trường chứng khoán, thiết lập sự tồn tại song hành của thị trường vốn đầu tư, tạo môi trường cạnh tranh hoàn hảo giữa các chủ thể liên quan đến chu chuyển vốn trong nền kinh tế.
Khi hội đủ các điều kiện sẽ từng bước chuyển sang cơ chế lãi suất thị trường tự do và thực hiện can thiệp bằng các chế tài phù hợp trong những trường hợp cần thiết.
Vậy kể từ sau năm 2008, tình hình điều hành lãi suất ở nước ta
như thế nào?
Quá trình tự do hóa lãi suất
Trải qua những thời kỳ phát triển khác nhau với những biến động kinh tế nhất định thì lãi suất của nước ta dần dần đã đi tới xu hướng tự do hoá, thả nổi theo thị trường. Đây là xu thế tất yếu trong nền tài chính - tiền tệ thế giới.
Cốt lõi
Việc sử dụng lãi suất trong quá trình xây dựng và điều hành chính sách lãi suất là một vấn đề phức tạp đòi hỏi phải có những hướng đi thích hợp, tuỳ thuộc vào đặc thù và những điều kiện thực tiễn của Việt Nam nhằm mục tiêu thúc đẩy phát triển kinh tế, phát huy vai trò đòn bẩy của lãi suất, góp phần tạo ra sự dịch chuyển trong cơ cấu đầu tư và thương mại theo hưóng tự do hoá và xác lập cạnh tranh tương đối bình đẳng về lãi suất giữa các nhà kinh doanh tiền tệ, từng bước tiến tới một hệ thống tài chính -tiền tệ và ngân hàng hoàn thiện, lành mạnh, đảm bảo thực hiện thành công chính sách tiền tệ vĩ mô. Một chính sách lãi suất hợp lý là một chính sách vừa có tác dụng thu hút vốn nhàn rỗi trong dân cư , vừa có thể khuyến khích nhà sản xuất sử dụng vốn vay đầu tư mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh, đảm bảo quyền lợi về mặt kinh tế của người gửi tiền, người vay tiền và Ngân hàng; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế.
Tổng kết
Căn cứ vào diễn biến tăng trưởng của nền kinh tế nước ta trong quá khứ và hiện tại đã cho thấy Chính phủ và NHNN đã có những bước đi tương đối thận trọng và linh hoạt trong việc bình ổn lãi suất cũng như tỉ giá VND và lạm phát.
Mặc dù vậy với khả năng chuyên môn cũng như điều kiện nên chúng ta vẫn chưa thể hoàn thiện được hệ thống lãi suất một cách hiệu quả và đáp ứng được mục tiêu.
Xu thế hội nhập hứa hẹn rằng trong tương lai nền kinh tế Việt Nam sẽ có sự tăng trưởng cao nhưng cũng ngày càng phải đối mặt với nhiều diễn biến lãi suất phức tạp hơn yêu cầu cần có sự nâng cao về năng lực chuyên môn quản lý và điều hành lãi suất của các cơ quan hoạch định chính sách. Xu hướng tự do hóa lãi suất mang lại nhiều lợi ích tuy nhiên cũng chứa đựng trong đó những rủi ro khó lường. Tuy nhiên, để lãi suất trong nước diễn biến theo chiều hướng này, trong tương lai NHNN cần phải gỡ bỏ dần sự can thiệp các chính sách của mình tới lãi suất thị trường nhưng cũng cần có những biện pháp kịp thời trong những tình huống xấu.

Cơ hội
Áp dụng kịp thời cơ chế điều hành lãi suất cơ bản đã ngăn chặn được nguy cơ xáo trộn thị trường tiền tệ và mất khả năng thanh toán của các NHTM.
Các biện pháp điều hành lãi suất đã có hiệu lực và hiệu quả đối với hoạt động kinh doanh của NHTM và lãi suất thị trường.
Thách thức
Suy thoái và phục hồi kinh tế thế giới vẫn còn diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực đối với kinh tế và thị trường tiền tệ trong nước, nguy cơ lạm phát cao chưa được ngăn ngừa một cách vững chắc, kinh tế vĩ mô còn tiềm ẩn nguy cơ rủi ro.
Thị trường vẫn còn bất ổn, hệ thống các NHTM còn chênh lệch lớn về quy mô, cơ cấu và chất lượng; năng lực của các NHTM còn nhiều mặt hạn chế.
Tác động của lãi suất
a
Nhóm 8
01/10/1982
28/12/1995
28/6/1997
Ấn định mức cố định lãi suất huy động vốn theo Nghị định 165/HĐBT
Khống chế chênh lệch bình quân giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay là 0,35%/tháng còn mức cụ thể giao cho các NHTM tự quy định theo Quyết định số
381/QĐ-NH1
Lãi suất huy động vốn đã thực sự tuân theo quy luật thị trường khi NHNN hoàn toàn trao quyền cho các NHTM quyết định để phù hợp với thời hạn của từng loại tiền gửi, địa bàn kinh doanh của từng tổ chức tín dụng.

Lãi suất huy động vốn
01/7/1987
01/01/1996
01/6/2002
01/10/1982
Lãi suất cho vay được ấn định mức cụ thể
Xác định hai chủ thể cho vay là Ngân hàng và Hợp tác xã (HTX) tín dụng.

Đối với Ngân hàng quy định gồm cho vay vốn
lưu động
và cho vay vốn
cố định
Đối với HTX tín dụng chia mức cho vay thành
mức ngắn hạn

mức còn lại
.
Áp dụng mức trần và sàn đối với
lãi suất cho vay
Vay vốn
lưu động
: 2,4% đến 6%/tháng
Vay vốn
cố định
: 2,1% đến 5,4%/tháng
NHNN chính thức bỏ mức sàn mà
chỉ áp dụng trần lãi suất cho vay
Lãi suất cho vay được vận dụng bằng cơ chế lãi suất cơ bản cộng với biên độ giao động trong từng thời kỳ, qua đó NHTM sẽ tự mình đưa ra các mức lãi suất cho phù hợp với tình hình hoạt động
sản xuất kinh doanh.
Lãi suất cho vay được hoàn toàn thả nổi theo nguyên tắc tự do thỏa thuận giữa bên đi vay và NHTM

05/8/2000
nay
Lãi suất cho vay
Thời điểm khủng hoảng kinh tế
toàn cầu những năm 2008 - 2009
Chỉ trong năm 2008 đã có 8 lần điều chỉnh lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu; 5 lần điều chỉnh dự trữ bắt buộc và lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc nhằm tạm thời ngăn chặn được nguy cơ xáo trộn thị trường tiền tệ và mất khả năng thanh toán của các Ngân hàng thương mại
Năm 2009, chính phủ điều hành, thay đổi một cách linh hoạt gói lãi suất hỗ trợ, tăng lãi suất cơ bản giúp phục hồi cán cân thanh toán, sức tiêu dùng v.v..
Chúng ta có những bước đi thận trọng trong việc chuyển dần sang tự do hóa lợi nhuận, được tóm tắt như sau:
Lãi suất ở thời kỳ thực thi cơ chế quản lý nền kinh tế theo phương thức quản lý kế hoạch hóa tập trung (trước năm 1998);
Lãi suất thời kỳ nền kinh tế bắt đầu chuyển sang nền kinh tế thị trường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước (từ năm 1988 đến 2006):
Cơ chế thực thi chính sách lãi suất cố định(1989-5.1992);
Cơ chế điều hành khung lãi suất (6.1992-1995);
Cơ chế điều hành lãi suất trần (1996-7.2000);
Cơ chế điều hành lãi suất cơ bản kèm biên độ (8.2000-5.2002);
Cơ chế lãi suất thỏa thuận (6.2002–nay).
Quá trình tự do hóa lãi suất ở Việt Nam đã đạt được những kết quả nhất định:

Tiến hành cải cách, điều chỉnh chính sách lãi suất làm cho lãi suất trong nền kinh tế đã trở thành công cụ quan trọng của Nhà nước nhằm thực thi chính sách tiền tệ, ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, kiềm chế được lạm phát.
Lãi suất góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế nói chung, kích thích sự tiết kiệm và khuyến khích đầu tư. Việc xóa dần chính sách ưu đãi về lãi suất đã dần dần tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại thực hiện tốt công tác hạch toán kinh tế và kinh doanh của mình được chủ động và thuận lợi.
Chính sách lãi suất qua các lần biến đổi đã tiến dần đến tự do hóa lãi suất, đã có những thành công cơ bản của quá trình tự do hóa lãi suất ở Việt Nam chuẩn bị cho sự hội nhập về lãi suất với nền kinh tế thế giới.
Những vấn đề, thách thức của tự do hóa lãi suất nói riêng cũng như điều hành lãi suất nói chung tại Việt Nam
Một số NHTMCP nợ xấu vẫn còn cao, năng lực tài chính hạn chế, nếu hạch toán và trích lập dự phòng rủi ro đầy đủ thì có thể thua lỗ.
Môi trường cạnh tranh hoạt động ngân hàng hiện nay vẫn chưa thật sự lành mạnh, chưa thực sự bình đẳng.
Sự biến động của lãi suất cùng với sự điều chỉnh chính sách lãi suất vẫn luôn là một bài toán nan giải trong hiện tại và tương lai cho các nhà hoạch địch chính sách kinh tế.
Các chính sách đó cần có những sự thay đổi linh hoạt để điều chỉnh lãi suất sao cho vừa phù hợp với diễn biến lãi suất trên thị trường quốc tế trong khi vừa phải tạo ra nhiều phúc lợi nhất cho nền kinh tế quốc dân.
Tiến hành cải cách, điều chỉnh chính sách lãi suất làm cho lãi suất trong nền kinh tế đã trở thành công cụ quan trọng của Nhà nước nhằm thực thi chính sách tiền tệ, ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, kiềm chế được lạm phát.
Lãi suất góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế nói chung, kích thích sự tiết kiệm và khuyến khích đầu tư. Việc xóa dần chính sách ưu đãi về lãi suất đã dần dần tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại thực hiện tốt công tác hạch toán kinh tếvà kinh doanh của mình được chủ động và thuận lợi.
Phối hợp với Bộ tài chính tăng cường phát hành những tín phiếu, trái phiếu kho bạc để đủ số lượng công cụ cho thị trường liên ngân hàng. Các ngân hàng vay hay cho vay rất dễ dàng bằng cách bán(vay) khi thiếu vốn, hay mua(cho vay) khi thừa vốn. NHTW cũng bán khi muốn thu hồi tiền từ lưu thông và mua khi muốn tung tiền ra lưu thông.
Cải tiến và tăng cường tác động của NHNN bằng các công cụ của chính sách tiền tệ hiện có, đặc biệt là điều chỉnh linh hoạt khả năng tạo tiền của các NHTM.
Tạo lập môi trường pháp lí lành mạnh để khuyến khích sự cạnh tranh giữa các NHTM và các TCTD phù hợp với chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần của Đảng và Nhà nước.
NHNN cần tiếp tục phối hợp chặt chẽ giữa điều hành lãi suất với các công cụ khác của chính sách tiền tệ, đặc biệt là kiên trì ổn định tỷgiá, quản lý chặt chẽ thị trường vàng và ngoại tệ. Bên cạnh đó, cần tiếp tục tập trung giải quyết nợ xấu của hệ thống NHTM.
Full transcript