Loading presentation...

Present Remotely

Send the link below via email or IM

Copy

Present to your audience

Start remote presentation

  • Invited audience members will follow you as you navigate and present
  • People invited to a presentation do not need a Prezi account
  • This link expires 10 minutes after you close the presentation
  • A maximum of 30 users can follow your presentation
  • Learn more about this feature in our knowledge base article

Do you really want to delete this prezi?

Neither you, nor the coeditors you shared it with will be able to recover it again.

DeleteCancel

Make your likes visible on Facebook?

Connect your Facebook account to Prezi and let your likes appear on your timeline.
You can change this under Settings & Account at any time.

No, thanks

Trình bày về trường phái hội họa Lập thể (Cubisme)

No description
by

Phan Hà Giang

on 27 August 2014

Comments (0)

Please log in to add your comment.

Report abuse

Transcript of Trình bày về trường phái hội họa Lập thể (Cubisme)

Người phụ nữ với Mandolin (1910)
Người phụ nữ với Ghi - ta, 1913
Trình bày về trường phái hội họa Lập thể (Cubisme)
I. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
1. Sự hình thành
2. Quá trình phát triển

II. ĐẶC TRƯNG NGHÊ THUẬT
1. Chủ đề và hình ảnh
2. Màu sắc và ánh sáng
3. Các yếu tố hình họa

III. CÁC TÁC GIẢ TIÊU
1. Phong cách sáng tác
2. Các tác phẩm tiêu biểu
SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
SỰ HÌNH THÀNH
Họa phái lập thể là một phong trào nghệ thuật của thế kỷ 20. Đi tiên phong là họa sĩ Pablo Picasso và Georges Braque, thành tích của họ là xây dựng nền tảng đầu tiên, cả hai đã gây ảnh hưởng và tạo ra một phong trào nghệ thuật rất quan trọng từ năm 1907 và 1911 tại Pháp
Sự ra đời của thuật ngữ "Lập thể": Nhà phê bình nghệ thuật Pháp Louis Vauxcelles vào năm 1908 lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ “Lập thể”, ngụ ý rằng đó là những hình lập phương kỳ quặc, sau khi nhìn thấy một bức tranh của Braque.
SỰ PHÁT TRIỂN
Giai đoạn đầu tiên của lập thể, được gọi là xu hướng lập thể phân tích, giai đoạn này hội họa của họ là nhiều bề mặt gần như đơn sắc, xám, nâu, những đường thẳng không hoàn thiện, những hình khối đan xen lẫn nhau. Vật thể bị bẻ gãy làm nhiều mảnh, tập trung vào hình thức hình học, sử dụng màu sắc nhẹ nhàng. Lập thể phân tích cố gắng kết hợp nhiều vật thể với nhau để tạo nên các hình khối mới.
Giai đoạn thứ hai là xu hướng lập thể tổng hợp, bắt đầu vào năm 1912, phát triển bởi Picasso, Braque , Juan Gris và một số người khác. Sự chú ý của họa sĩ là bố cục. Bố cục của bức tranh gồm các chi tiết chồng chất lên nhau, những chi tiết này được tô sơn hoặc được trát sơn lên nền vải, chúng có màu sắc sặc sỡ tươi sáng hơn, sử dụng các hình trang trí nhiều hơn hoặc cắt dán.
Lập thể ảnh hưởng tới các nghệ sỹ vào thập niên 1910 và khơi dậy các trường phái nghệ thuật mới như chủ nghĩa vị lai, chủ nghĩa cấu trúc và chủ nghĩa biểu hiện. Tuy chỉ xuất hiện vào khoảng thời gian ngắn từ năm 1906 đến năm 1914, nhưng sức ảnh hưởng của trường phái Lập thể vẫn kéo dài cho đến tận ngày nay, lan rộng ra các trường phái nghệ thuật hiện đại khác, từ kiến trúc, tạo dáng, thời trang cho đến điêu khắc
Tĩnh vật đĩa trái cây và cây đàn Mandolin, 1919
ĐẶC TRƯNG NGHÊ THUẬT
CHỦ ĐỀ VÀ HÌNH ẢNH
Về chủ thể trong tác phẩm của họa sỹ lập thể, thì chủ yếu là vẽ về con người hay tĩnh vật ( ví dụ : người phụ nữ chơi đàn măng - đô - li , phụ nữ với quả cầu ..... ). Về hình ảnh thì được người họa sỹ khắc họa một cách khá rõ nét và cụ thể
MÀU SẮC VÀ ÁNH SÁNG
Về màu sắc trong tác phẩm hội họa lập thể thì người học sỹ sử dụng ít màu sắc và khá tối giản về màu sắc. Về ánh sáng thì các tác phẩm hội họa lập thể được người họa sĩ tô vẽ hơi tối ánh sáng hơi mờ ảo và có phần mờ nhạt
CÁC YẾU TỐ HÌNH HỌA
Khi trình bày một tác phẩm theo trường phái hội họa lập thể, người họa sỹ thường từ bỏ luật xa gần, đối tượng được mổ xẻ, phân tích và được kết hợp lại trong một hình thức trừu tượng. Người họa sỹ không quan sát đối tượng ở một góc nhìn cố định mà lại đồng thời phân chia thành nhiều mặt khác nhau, nhiều khía cạnh và tạo thành các mảng khác nhau khác nhau. Thông thường các bề mặt, các mặt phẳng giao với nhau không theo các quy tắc phối cảnh làm cho người xem khó nhận ra chiều sâu của bức tranh.
CÁC TÁC GIẢ TIÊU BIỂU
Pablo Picasso (1881 – 1973)
PABLO PICASSO
Thời kỳ đầu sáng tác của Picasso thành Thời kỳ Xanh (1901–1904), Thời kỳ Hồng (1904–1906), Thời kỳ Ảnh hưởng Phi châu - điêu khắc (1908–1909), Thời kỳ Lập thể phân tích (1909–1912) và Thời kỳ Lập thể tổng hợp (1912–1919)
Thời kỳ Xanh (1901–1904)
Bắt đầu khi họa sĩ sống tại Madrid từ tháng 2 tới tháng 4 năm 1901, khi mà Picasso khởi đầu bằng màu lạnh, đặc biệt với các sắc lục và sắc xanh.
Thời kỳ Hồng (1904–1906)
Vào khoảng cuối năm 1904, các sắc độ Xanh trong tác phẩm của Picasso lại được thay thế bằng các ánh vẻ hồng, nâu và nâu đất - Đây là sản phẩm của thời gian ông có mối quan hệ mặn nồng với Fernande Olivier, một người mẫu cho các họa sĩ và nhà điêu khắc.
Thời kỳ Ảnh hưởng Phi châu - điêu khắc (1908–1909)
Thời kỳ Ảnh hưởng Phi châu bắt đầu với tác phẩm nổi tiếng Những cô nàng ở Avignon (Les Demoiselles d'Avignon) lấy cảm hứng từ những đồ tạo tác Phi châu. Ông cho rằng mọi loại nghệ thuật phải tự học được cái hay của nhau. Ông chọn châu Phi làm cản hứng của mình bởi tính Lập thể rõ ràng của nó
Sàn quay Galette, 1900
Chân dung của ông Gertrude Stein (1906)
Những cô nàng ở Avignon
Thời kỳ Lập thể phân tích (1909–1912)

Chủ nghĩa Lập thể phân tích là phong cách vẽ mà Picasso đã phát triển cùng Georges Braque theo đó sử dụng những màu đơn sắc ngả nâu cho các tác phẩm. Các vật thể sẽ được hai họa sĩ tách thành những bộ phận riêng biệt và "phân tích" chúng theo hình dạng bộ phận này. Tới khoảng cuối năm 1906, một loại bố cục mới được Picasso bắt đầu

Trong các năm từ 1909 tới 1912, Picasso đã cùng với Georges Braque khai triển một trường phái hội họa mới, được gọi tên là “Lập Thể Phân Tích“ (Analytical Cubism). Những họa sĩ lập thể ban đầu đã bị chỉ trích về thứ nghệ thuật hình học của họ nhưng thực ra, những người theo đường lối hội họa mới này đã trình bày một loại thực tế mới, khác hẳn với truyền thống cũ của thời Phục Hưng, đặc biệt nhất là về hai phạm vi phối cảnh và ảo ảnh (illusion), chẳng hạn như họ đã vẽ ra nhiều diện của một đề tài trên cùng một khung vải để diễn tả nhiều ý tưởng hơn là chỉ dùng một diện đơn thuần, bị giới hạn
Nhà máy (Factory at Horta de Elbro)
Bức tranh được vẽ năm 1909, khi Picasso đưa Fernande Olivier tới Horta de Ebro vào kì nghỉ hè. Ông biết khá rõ ngôi làng miền núi này, vì ông đã ở đó 10 năm trước với gia đình của người bạn tốt của ông Manuel Pallares; đó là trải nghiệm đầu tiên của Picasso ở vùng nông thôn. Lần thứ hai tới đây ít vui vẻ hơn khi gia đình Pallares và người dân làng không thực sự chào đón vì Picasso và Fernande không kết hôn, và Fernande bị bệnh khá lâu tại đó.
Tuy nhiên phong cảnh ảm đạm và những ngôi nhà bằng còn trần trụi lớp vữa đã tạo cảm hứng cho Picasso để đẩy thử nghiệm của ông một giai đoạn xa hơn, việc xây dựng một phong cách mới, trong đó hình ảnh thực tế đã giảm đến chỉ còn các yếu tố hình học.

Chân dung Ambroise Vollard
Bức tranh được vẽ năm 1910, thuộc thời kì Lập thể phân tích, là một bức tranh dùng dầu trên chất liệu vải. Bức tranh vẽ lại một người hay buôn tranh của ông.
Chủ đề của bức chân dung này là Daniel-Henry Kahnweiler (1884-1979), một người buôn tranh sinh ra ở Đức, nhà văn, và nhà xuất bản. Kahnweiler mở một phòng trưng bày nghệ thuật ở Paris vào năm 1907 và năm 1908 bắt đầu đại diện cho Pablo Picasso, người mà ông giới thiệu với Georges Braque. Kahnweiler là một nhà vô địch vĩ đại của cách mạng thử nghiệm của các nghệ sĩ với trường phái lập thể và mua phần lớn các bức tranh của họ giữa năm 1908 và năm 1915. Ông cũng đã viết một cuốn sách quan trọng, Sự nổi lên của Lập thể, vào năm 1920, trong đó cung cấp một khuôn khổ lý thuyết cho phong trào này.
Người nghệ sĩ phong cầm
“Người nghệ sĩ phong cầm” là một bức tranh được vẽ năm 1911 của Pablo Picasso. Bức tranh có để miêu tả một người đàn ông chơi phong cầm. Việc phân chia các khối ba chiều vào một mặt phẳng hai chiều cho thấy bức tranh là theo phong cách lập thể phân tích, được phát triển bởi Picasso và Georges Braque từ năm 1907 đến năm 1914. Sự khởi đầu của xu hướng lập thể có thể được coi là do Picasso và Braque nổi loạn so với thế kỷ của nghệ thuật truyền thống, thực tế mà bắt chước thế giới tự nhiên.
"Tĩnh vật với chiếc ghế mây" là một trong những tác phẩm đầu tiên của nghệ thuật “cắt dán” (lần đầu tiên được phát triển bởi Braque năm 1912) hoặc "lập thể tổng hợp" bởi vì nó kết hợp các vật liệu khác hơn so với sơn như vải, dây thừng, v.v.. để miêu tả ý tưởng của bức tranh. Các hình bầu dục, hình vẽ mô tả một loạt các đối tượng: chiếc hồ, một con dao đang cắt một trái chanh, một chiếc khăn ăn, một ly rượu vang, từ "Jou" có nghĩa là "chơi" hay "hàng ngày" (như trong báo) trong tiếng Pháp, một đường ống, đóng hộp một chiếc ghế, một cái bàn, và toàn bộ khung cảnh được bao bọc bởi một sợi dây thừng. Mặc dù nó trông giống như một thành phần của vật liệu không liên quan, bức tranh được cho là mô tả của một bữa sáng kiểu Pháp. Từ "Jou" là đề cập đến các báo hàng ngày và từ "chơi" ám chỉ tới sự vui vẻ của bức tranh.
Bức tranh “Người sinh viên với vây sáo” (1913)
Sinh viên với cây sáo là một sự pha trộn hấp dẫn của hội họa, vẽ và cắt dán, cũng như một ví dụ tốt về thử nghiệm của Picasso với pha trộn các hạt vật chất vào sơn; cái gọi là "quy trình bột", ông đã vay mượn từ bạn bè của mình, các nghệ sĩ Georges Braque.
Giấy Bảo Quản, Scott Gerson: Nó gần như giống như vẽ graffiti theo một cách nó giống như vẽ trên một bức tường, và đó là một phần vì các kết cấu.
Mặt bằng là một lớp đá thạch cao đã được áp dụng cho gần bề mặt của vải. Picasso thêm một loại vật liệu gai góc. Ông đã vẽ bằng than củi. Và sau đó, có sơn màu xám, trong đó có một bề mặt rất sáng bóng và do đó, nó tạo ra tính hai mặt giữa mờ và bóng. Và những sự bổ sung cuối cùng là những yếu tố ảnh ghép, và bao gồm mũ, được làm từ một loại giấy công nghiệp rất nặng, có thể là một cái gì đó mà ông nhận thấy đã được loại bỏ, đã được nhuộm màu, nhàu nát.

Georges Braque
(1882 - 1963)
Đầu tiên tác phẩm của ông mang phong cách ấn tượng , nhưng sau khi nhìn thấy triển lãm của nhóm nghệ thuật được gọi là "Fauves "(Beasts) (nhóm Dã thú) trong năm 1905, Thông qua phong cách Dã thú - Nhóm Dã thú trong đó có Henri Matisse và André Derain và một số những người khác - Braque sử dụng màu sắc rực rỡ để đại diện cho phản ứng cảm xúc. Braque làm việc gần gũi nhất với các nghệ sĩ Raoul Dufy và Othon Friesz , chia sẻ với những người ở Le Havre, cùng quê hương của Braque, để phát triển một phong cách nhẹ nhàng hơn phái Dã thú phần nào.
Ông mô tả: "các đối tượng tan vỡ thành nhiều mảnh ... là một cách gần nhất để nhận được các đối tượng ... Phân mảnh giúp tôi thiết lập không gian và chuyển động trong không gian". Ông truyền đạt một cảm giác là có thể di chuyển trong bức tranh. Ông thông qua một bảng màu trung tính, đơn sắc và tin rằng đó là một bảng màu sẽ nhấn mạnh chủ đề vấn đề. Trong thời gian giữa các cuộc chiến tranh, Braque thể hiện một phong cách tự do của xu hướng lập thể, tăng cường sử dụng màu sắc và các đối tượng riêng rẽ. Tuy nhiên, ông vẫn giữ phương pháp của lập thể là quan điểm đồng thời và phân mảnh. Trái với Picasso, người đã liên tục tái phát minh phong cách của ông về hội họa, hình ảnh biểu hiện lập thể kết hợp siêu thực.
Từ năm 1909, Braque bắt đầu làm việc chặt chẽ với Pablo Picasso , người đã phát triển một phong cách tương tự với ông
Từ 1908-1913 Braque đã bắt đầu quan tâm đến tính đồng thời và phân mảnh. Ông tiến hành một nghiên cứu các hiệu ứng ánh sáng, góc nhìn và các phương tiện kỹ thuật mà họa sĩ sử dụng để đại diện cho những hiệu ứng này. Trong những cảnh làng của mình, Braque thường xuyên giảm bớt kết cấu, một hình thức hình học dạng khối lập phương, và thể hiện ba chiều bằng cách phân mảnh các hình ảnh. Ông đã cho thấy điều này trong bức tranh “houses-at-l'estaque”.


Lấy cảm hứng từ bức tranh Tĩnh vật và chiếc ghế mây của Picasso, Braque đã tạo ra tác phẩm Fruitdish and Glass. Tranh dán giấy cũng bao gồm các vật liệu dùng để dán nhưng khác ở chỗ, các mẫu giấy dán chính là các vật thể. Ví dụ, cốc thủy tinh trong bức tranh này chính là một mẩu giấy báo được cắt thành hình chiếc cốc.
Dù trước đó Braque đã sử dụng các chữ cái trong tranh của ông, nhưng chính các tác phẩm của thời kì lập thể tổng hợp đã đưa ý tưởng này lên đến một tầm cao mới. Các chữ cái trước đây dùng để gợi ý cho chủ đề, thì nay chúng chính là chủ đề. Ngoài các mẩu giấy báo là vật dụng được các họa sĩ dùng nhiều nhất, còn có giấy và hình khắc gỗ. Về sau, học òn đưa thêm các mẫu quảng cáo trên báo vào tác phẩm. Sự sáng tạo này đã tăng thêm sắc màu cho các tác phẩm nghệ thuật của những họa sĩ theo trường phái lập thể.

Juan Gris
Lúc đầu ông vẽ tranh theo lối lập thể phân tích, tác phẩm của ông đưa ra nhiều điểm tụ trên phối cảnh để thể hiện mọi góc cạnh của vật thể. Năm 1915, Juan Gris chuyển sang lối vẽ lập thể tổng hợp. Đề tài tranh của ông thường là những cây đàn, hộp mứt, trái cây, nổi khối như phù điêu. Ở tranh của ông, người ta thấy rõ sự chọn lọc chất liệu, có hiệu quả vè màu sắc và ánh sáng tinh tường. Về sau, màu sắc trong tranh ông trở nên hiền dịu, các nhân vật là những mảnh hình học thuần khiết.
Full transcript