Loading presentation...

Present Remotely

Send the link below via email or IM

Copy

Present to your audience

Start remote presentation

  • Invited audience members will follow you as you navigate and present
  • People invited to a presentation do not need a Prezi account
  • This link expires 10 minutes after you close the presentation
  • A maximum of 30 users can follow your presentation
  • Learn more about this feature in our knowledge base article

Do you really want to delete this prezi?

Neither you, nor the coeditors you shared it with will be able to recover it again.

DeleteCancel

Make your likes visible on Facebook?

Connect your Facebook account to Prezi and let your likes appear on your timeline.
You can change this under Settings & Account at any time.

No, thanks

Đề tài: Bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử của đền Ngọc Sơn

No description
by

Hải Minh

on 20 December 2015

Comments (0)

Please log in to add your comment.

Report abuse

Transcript of Đề tài: Bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử của đền Ngọc Sơn

BỐ CỤC
Phần 1: Phần mở đầu
Phần 2: Phần nội dung
Phần 3: Phần kết luận
100
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
Khái niệm “Di tích”
Phân loại và phân cấp di tích
Di tích lịch sử - văn hóa
là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học. Di tích lịch sử - văn hoá phải có một trong các tiêu chí:
Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước, như
chùa Thiên Mụ
Cột cờ Hà Nội
Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước như
Đền Kiếp Bạc
Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến, như
Di tích kiến trúc nghệ thuật
là công trình kiến trúc nghệ thuật, tổng thể kiến trúc đô thị và đô thị có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển nghệ thuật kiến trúc của dân tộc. Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử. Các di tích tiêu biểu loại này như
Hội An
Nhà thờ đá Phát Diệm
Di tích khảo cổ là những địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển của các văn hoá khảo cổ. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như
Hoàng Thành Thăng Long
Di tích thắng cảnh (danh lam thắng cảnh) là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học. Danh lam thắng cảnh phải có một trong các tiêu chí:
+ Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu.
+ Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng những dấu tích vật chất về các giai đoạn phát triển của trái đất.

là một bộ phận cấu thành hệ thống các
Phân cấp di tích
Di tích cấp tỉnh: Là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương.Địa phương lập hồ sơ, trên cơ sở đề nghị của giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định xếp hạng di tích cấp tỉnh.
Di tích cấp tỉnh: Là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương.Địa phương lập hồ sơ, trên cơ sở đề nghị của giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định xếp hạng di tích cấp tỉnh.
Di tích quốc gia đặc biệt: Là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia. Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt; quyết định việc đề nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc xem xét đưa di tích tiêu biểu của Việt Nam vào danh mục di sản thế giới.
TỔNG QUAN VỀ KHU
DI TÍCH ĐỀN NGỌC SƠN
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH
KIẾN TRÚC
Đền Ngọc Sơn được xây dựng từ thế kỷ XIX. Lúc đầu được gọi là chùa Ngọc Sơn, sau đổi gọi là đền Ngọc Sơn vì trong đền chỉ thờ thần.
Đảo Ngọc xưa được gọi là Tượng Nhĩ (tức là tai voi), nay thuộc quận Hoàn Kiếm – Thành phố Hà Nội. Khi vua Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long đã đặt tên đảo là Ngọc Tượng và đến đời Trần thì đảo được đổi tên là Ngọc Sơn. Tại đây đã có một ngôi đền được dựng lên để thờ những người anh hùng liệt sĩ đã hy sinh trong kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Về sau lâu ngày ngôi đền bị sụp đổ.
Đến thời Vĩnh Hựu nhà Lê (1735 - 1739), chúa Trịnh Giang đã dựng cung Thuỵ Khánh và đắp hai quả núi đất ở trên bờ phía đông đối diện với Ngọc Sơn gọi là núi Đào Tai và Ngọc Bội. Cuối đời Lê, cung Thuỵ Khánh bị Lê Chiêu Thống phá huỷ. Một nhà từ thiện tên là Tín Trai đã lập ra một ngôi chùa gọi là chùa Ngọc Sơn trên nền cung Thuỵ Khánh cũ. Năm Thiệu Trị thứ ba (1843), một hội từ thiện đã bỏ gác chuông, xây lại các gian điện chính, các dãy phòng hai bên, đưa tượng Văn Xương Đế quân vào thờ và đổi tên là đền Ngọc Sơn.
Đầu những năm 70 của thế kỉ XIX, khi thực dân Pháp đã đánh chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Bộ, đất nước đang trong tình thế nguy cấp, triều chính phong kiến rối ren. Đó cũng là lúc nhà nho Nguyễn Văn Siêu đứng ra vận động cải tác công trình liên hoàn Đền Ngọc Sơn – Cầu Thê Húc – Tháp Bút – Đài Nghiên. Như vậy, vốn ban đầu chỉ là một Võ miếu, được đổi thành chùa, rồi thành đền nằm gọn trên hòn đảo Ngọc Sơn, nơi đây đã trở thành một biểu tượng văn hóa của kẻ sĩ Bắc Hà. Sau 4 năm ròng cải tác và qua vài lần tu bổ nữa, di tích này đã có được quy mô, diện mạo như ngày hôm nay.
Các vị thần được thờ
Giải mã một số biểu tượng trong quần thể kiến trúc đền Ngọc Sơn


BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ LỊCH SỬ
ĐỀN NGỌC SƠN
NHÓM :
Lê Minh Hải
Trần Xuân Mạnh
Cổng ngoài đền Ngọc Sơn
Tháp Bút
Tên cầu Thê Húc nghĩa là giữ lại ánh sáng đẹp của mặt trời. Cầu Thê Húc dẫn đến cổng đền Ngọc Sơn. Cầu có 32 chân cột tròn bằng bê tông, 15 nhịp, sàn và lan can làm bằng gỗ. Toàn bộ cầu được sơn màu đỏ, nổi bật trên nền nước xanh ngắt của Hồ Gươm.
Đắc Nguyệt Lâu
Đền thờ

Văn Xương Đế Quân
Phù Hựu Đế Quân (Lã Tổ - Lã Động Tân)
Quan Thánh Đế quân (Quan Đế - Quan Vân Trường)
Cửu Thiên Vũ Đế (Trần Hưng Đạo)
Đền Ngọc Sơn ở quận Hòa Kiếm Hà Nội
người được hỏi, tất cả đều đã nghe tới
THÌ
43%
đã đến thăm khu di tích lịch sử văn hóa này thì lại chỉ có
57%
CHƯA BAO GIỜ ĐẾN DI TÍCH NÀY
Theo một khảo sát các sinh viên đang học tập tại Đại học Văn Hóa Hà Nội.
Một số biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị di tích
Thực hiện có hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục
I
Đẩy mạnh công tác quản lý giám sát
IV
III
II
Nâng cao chất lượng các dịch vụ
Phát triển nguồn nhân lực phục vụ việc bảo tồn, phát huy giá trị
V
VI
Đối với sinh viên
Tổ chức đan xen các loại hình văn hoá truyền thống ngay tại đền Ngọc Sơn
Chỉ có khoảng
1/5
các bạn đã đến hiểu được ý nghĩa, giá trị của di sản Thế giới này. Điều này chứng tỏ nhận thức lịch sử của các bạn trẻ còn hạn chế, hầu như các bạn trẻ chỉ coi di tích này là một điểm du lịch đẹp, công tác phát huy những giá trị văn hóa lịch sử của từ khu tích còn kém đối với các bạn sinh viên, cũng như giới trẻ nói chung.
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Đền Ngọc Sơn nằm trên đảo Ngọc của Hồ Hoàn Kiếm. Đây là một di tích nổi tiếng nằm ngay tại trung tâm Thủ đô Hà Nội, thật hiếm thấy nơi nào mà ngay giữa trung tâm chốn đô thành lại có một di tích, danh thắng với bộ mặt khác lạ như ở đây. Nơi đây có sự kết hợp giữa cảnh đẹp thiên nhiên với nghệ thuật kiến trúc độc đáo, thể hiện những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam: tinh thần thượng võ chống ngoại xâm, tinh thần hiếu học, lòng mến mộ văn chương và đạo lí làm người
Di tích đền Ngọc Sơn có ý nghĩa quan trọng, minh chứng cho lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc. Di tích giúp cho con người biết được cội nguồn của dân tộc mình, hiểu về truyền thống lịch sử, đặc trưng văn hoá của đất nước, tác động tới việc hình thành nhân cách con người Việt. Với những giá trị mang trong mình, Đền Ngọc Sơn – Hồ Hoàn Kiếm đã được công nhận là di tích Quốc gia vào ngày 10 tháng 7 năm 1980, và là một trong những di tích Quốc gia đặc biệt được xếp hạng năm 2013.
Ngày nay, Đền Ngọc Sơn là một trong những điểm du lịch hàng đầu của Thủ đô, thu hút được rất nhiều khác du lịch trong và ngoài nước đến tham quan, đặc biệt là du khách nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, giao lưu văn hóa, đưa nền văn hóa Việt Nam đến gần hơn với bạn bè quốc tế.
Với người dân Hà Nội, Hồ Gươm, đền Ngọc Sơn là niềm tự hào. Còn với người dân ở các tỉnh, thành phố khác thì từ lâu hình ảnh Hồ Gươm và đền Ngọc Sơn đã gần như trở thành một biểu tượng của Hà Nội. Không những thế đây còn là một điểm đến chứa đựng nhiều giá trị văn hóa, lịch sử của Thủ đô, là nơi mà bất kỳ du khách nào cũng phải ghé thăm khi đến với Hà Nội

Ngày nay, Đền Ngọc Sơn là một trong những điểm du lịch hàng đầu của Thủ đô, thu hút được rất nhiều khác du lịch trong và ngoài nước đến tham quan, đặc biệt là du khách nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, giao lưu văn hóa, đưa nền văn hóa Việt Nam đến gần hơn với bạn bè quốc tế.
Với người dân Hà Nội, Hồ Gươm, đền Ngọc Sơn là niềm tự hào. Còn với người dân ở các tỉnh, thành phố khác thì từ lâu hình ảnh Hồ Gươm và đền Ngọc Sơn đã gần như trở thành một biểu tượng của Hà Nội. Không những thế đây còn là một điểm đến chứa đựng nhiều giá trị văn hóa, lịch sử của Thủ đô, là nơi mà bất kỳ du khách nào cũng phải ghé thăm khi đến với Hà Nội

2. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị khu di tích lịch sử văn hóa Đền Ngọc Sơn ở quận Hoàn Kiếm – Hà Nội.
Phạm vi nghiên cứu
Toàn thể khu di tích đền Ngọc Sơn và tình trạng phát huy giá trị khu di tích thông qua nhận thức của các bạn học sinh sinh viên hiện nay.
3. Lịch sử nghiên cứu
4. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là góp phần làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản sau:
- Tổng quan về khu di tích đền Ngọc Sơn
- Giá trị của Di tích Đền Ngọc Sơn, quận Hoàn Kiếm – Hà Nội
- Đưa ra một số giải pháp bảo tồn và phát triển các giá trị di tích Đền Ngọc Sơn nhằm giữ gìn các giá trị văn hóa, lịch sử, đồng thời đưa các giá trị văn hóa Việt đến với bạn bè Quốc tế.


5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp phỏng vấn
- Điều tra bằng bảng hỏi
- Phương pháp nghiên cứu thực địa
- Phương pháp giải mã biểu tượng


6. Đóng góp của đề tài
- Đưa ra thực trạng, góp phần phát huy bản sắc văn hóa cao đẹp của dân tộc
- Kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác tìm hiểu của học sinh sinh viên và người dân.

7. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề tài gồm có 4 chương:
Chương 1. Một số vấn đề lý luận về bảo tồn và phát huy giá trị di tích
Chương 2. Tổng quan về khu di tích Đền Ngọc Sơn ở quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
Chương 3. Giá trị của khu di tích Đền Ngọc Sơn
Chương 4. Thực trạng và một số biện pháp bảo tồn khu di tích Ngọc Sơn ở quận Hoàn Kiếm, Hà Nội


1
2
3
Di tích cách mạng - kháng chiến
di tích lịch sử - văn hoá, tuy nhiên, nó có những điểm khác với các di tích tôn giáo tín ngưỡng như đình, đền, chùa, miếu... ở chỗ: đó là những địa điểm cụ thể, công trình kiến trúc có sẵn (nhà ở, đường phố...), là những công trình được con người tạo nên phù hợp với mục đích sử dụng (địa đạo, hầm bí mật...) gắn liền với những sự kiện cụ thể, nhân vật lịch sử cụ thể mà trở thành di tích. Loại hình di tích này rất đa dạng, phong phú, có mặt ở khắp mọi nơi, khó nhận biết, đồng thời cũng rất dễ bị lãng quên, dễ biến dạng theo mục đích sử dụng, theo thời tiết và theo thời gian. Bởi vậy các di tích này vừa khó bảo tồn vừa khó phát huy tác dụng nếu không được quan tâm đặc biệt
Cổng ngoài có bốn cột xây bằng gạch và hai mảng tường lửng. Ở mỗi cột đều ghi những câu đối chữ Hán, vừa làm tăng vẻ cổ kính, vừa giúp khách tham quan hiểu thêm về lịch sử và cảnh quan di tích, cũng như cảm thụ chất thơ, chất văn học và cả chất triết học hàm chứa trong nội dung thờ tự.
Trên núi Ngọc Bội (núi Độc Tôn) cũ, nhà nho Nguyễn Văn Siêu cho xây một tháp đá, được xây dựng trên núi Độc Tôn (núi đá xếp, đường kính 12m, cao 4m).
Tháp vuông có tầng, cao m
5
28
Đỉnh tháp hình ngọn bút lông, cả cán và ngòi cao m.
0.9
Như vậy tổng cộng ngọn tháp cao m.
28.9
Tiếp đến là một cửa cuốn gọi là Đài Nghiên, trên có đặt một cái nghiên mực bằng đá hình nửa quả đào bổ đôi theo chiều dọc, có hình ba con ếch đội. Nghiên được tạc theo hình nửa quả đào, cắt ngang theo chiều dọc, khoét lõm.
Đội nghiên là ba con cóc như ba cái chân kiềng.
Bề dài quả đào
0.97
Bề ngang m
0.8
Cao m
0.3
Chu vi m
2
Cổng đền có tên là Đắc Nguyệt Lâu (lầu được trăng). Cổng nằm chếch dưới bóng cây đa cổ thụ, ở giữa một vùng cây cối um tùm, trông như từ dưới nước nhô lên.
Đây là một lầu nhỏ xinh xắn, gồm hai tầng. Tầng hai có hai mái. Trên tầng hai nhìn ra hồ, phía đông có 1 cửa sổ tròn.
Bước vào quần thể kiến trúc, ở Nghi Môn, chúng ta được đón chào bởi hai chữ “Phúc” - “Lộc” tương tự như ở các đình chùa và câu đối:
Lâm thủy đăng sơn nhất lộ tiệm nhập giai cảnh
Tầm nguyên phỏng cổ thử trung vô hạn phong quang
Nhưng ở đây, “Phúc” – “Lộc” còn có một ý nghĩa riêng. Những câu đối đề hai chủ lớn và hai chủ bên của cổng đền cùng hai dòng đại tự của cụ Siêu có ý nhắn rằng: Những ai có tầm nhìn rộng, hướng tới đỉnh cao “lâm thủy đăng sơn” (theo mặt nước, vượt qua núi cao), những ai biết tìm về cội nguồn, học tập người xưa “tầm nguyên phỏng cổ” (tức là tìm về nguồn, hiểu rõ cội gốc), những ai lòng dạ sáng trong như ngọc (ngọc ư tư), những ai biết gây dựng cho đời (lập nhân), những ai cứu đời (độ thế) thì tất nhiên sẽ có “Phúc” – “Lộc”.
Hai vế đối ở hai mặt trụ quay vào cổng chính giới thiệu những nội dung mới của công trình kiến trúc sau khi cải tác.

Mặt trước Đài Nghiên có vế câu đối quan trọng: “Kình thiên bút thế thạch phong cao” (Thế bút chống trời cao như ngọn núi đá) - tương ứng với tinh thần Tháp Bút xây phía ngoài. Đó là cái khí phách độc lập, tự chủ của người trí thức Bắc Hà. Mặt sau Đài Nghiên có đại tự Ngọc Sơn Từ, có nghĩa đền thờ Ngọc và Núi - đền thờ sự trong sáng và sự cao đẹp.
Nhưng đặc sắc nhất của phần Nghiễn Đài là ở trên đỉnh Đài Nghiên - ở đó có một nghiên đá (vốn dùng để pha mực tàu viết chữ Nho) hình nửa quả đào đặt trên ba con cóc được khắc nguyên tảng, liền khối với bệ gạch. Ba con cóc cùng há miệng như đang cùng kể, cùng nói điều gì hân hoan sau những ngày ngậm miệng. Bài minh khắc chữ Hán trên mặt nghiên đá cho ta thấy hình ảnh một loại người không góc cạnh, không tròn trịa, không ở cao cũng không ở thấp, nhìn đời rộng rãi, hướng tới tầm cao, ứng với bậc “bề trên” mà nhả lời rành rọt nhẹ nhàng.
Cầu Thê Húc dẫn vào đền Ngọc Sơn, bốn mặt thành cầu đều khắc chữ “Thê Húc Kiều”, có nghĩa: ánh sáng ban mai đậu vào thành cầu. Có người còn giải nghĩa: cầu dựa vào ánh sáng ban mai. Ban mai biểu trưng cho sức sống mới.
Ba chữ “Đắc Nguyệt Lâu” (lầu được trăng) và các câu đối trước Lầu này ca ngợi cảnh đẹp Ngọc Sơn và nhắc rằng: khi gặp khó khăn, nếu biết nhìn xa, biết dựa vào sức trẻ thì mọi khốn khó rồi sẽ thông, có thể làm được những gì mình mong muốn như được trăng vậy, và có thể đi tới nơi thanh bình.
Hai câu đối rung động lòng người ở mặt trước Lầu đã miêu tả cầu Thê Húc: “ Lối dẫn cầu vồng đậu bờ đảo/ bóng lầu ôm trăng giữa hồ sâu”
Ánh trăng và ánh nắng ban mai ấy chính là tấm lòng trong sạch cao khiết của cụ Siêu và sĩ phu Bắc Hà trước bao nhiễu nhương biến động của thời cuộc.
Trên Cầu Thê Húc, ta nhìn thấy mặt sau Đài Nghiên với đại tự Ngọc Sơn Từ, có nghĩa Đền thờ Ngọc và Núi, đền thờ sự Trong sáng và Cao đẹp.

Hai vế đối ở hai trụ nhà Tiền Bái cho ta hay: những người hiểu biết đều chủ trương Cố đô Thăng Long phải là Kinh đô Đất Nước… Cần nói rõ thêm: lúc cụ Siêu cho cải tác khu Đền, Kinh đô nước ta đang ở Huế.
Trong Đền Ngọc Sơn, sau khi vái hai Ban thờ Tôn thần Sông Núi và Đức thánh Trần ở hậu cung, quay ra chúng ta gặp: “Trung” – “Nghĩa”, mà với những gì cụ Siêu đã gửi gắm qua bao dòng chữ, hai đại tự Trung - Nghĩa nơi đây mang một dung sâu rộng hơn nhiều so với lý thuyết Nho giáo được truyền giảng trong nhiều thế kỷ.
Trên đường quay ra, ta gặp Đình Kính Chữ nhắc nhở: Thăng Long là nơi trọng chữ nghĩa. Và được đọc hai câu đối mặt sau Lầu Được Trăng ca ngợi cảnh trí Ngọc Sơn thanh bình, người lành dữ đều có thể lui tới.

GIÁ TRỊ
CỦA KHU DI TÍCH ĐỀN NGỌC SƠN


văn hóa, tâm linh
kinh tế du lịch
giáo dục
Nằm giữa trung tâm Thủ đô, Hồ Hoàn Kiếm – Đền Ngọc Sơn cũng đi vào nhiều tác phẩm, công trình của các nhà học giả, các nhà nghiên cứu. Trong số đó phải kể đến một số công trình như:
- Nguyễn Vinh Phúc (2009), "Hồ Hoàn Kiếm và đền Ngọc Sơn", Nxb Hà Nội.
- Gustave Dumoutier (1887), “Les pagodes de Hanoi”(Những ngôi chùa Hà Nội)
- Hoàn Kiếm lake : Its legends and temples. Nxb Thế giới, 2008.
- Lê Văn Lan (2002), Di tích lịch sử - văn hoá trong khu phố cổ và xung quanh hồ Hoàn Kiếm - Hà Nội, Nxb. Hà Nội
Ba chữ “Tả thanh thiên” trên Tháp Bút có nhiều ý kiến khác nhau giải thích, tranh cãi như: viết thơ lên trời xanh, viết lên trời xanh, đánh nhà Mãn Thanh, giãi bày tấm lòng với trời xanh, dặt câu hỏi với trời xanh, v.v… Nhà bảo tàng học Phạm Đức Huân giải nghĩa trong cuốn “Tháp Bút - Đài Nghiên - Đình Trấn Ba – lời nhắn của người xưa” là: viết giữa thanh thiên bạch nhật, nói ra sự thật giữa ban ngày. Ẩn ý thật của cụ Siêu thế nào, ta còn phải chờ sự giải mã của nhiều nhà nghiên cứu nữa.
Miếu Sơn thần thờ ở núi Độc Tôn biểu trưng cho võ công mà trên đó Tháp Bút được dựng lên. Bài Chí viết trên mặt Tháp nêu rõ ý tưởng của người thiết kế là: cần coi trọng cả văn lẫn võ, Núi là biểu tượng của chiến công mà Tháp là biểu tượng của văn vật. Hiểu rộng ra, có nghĩa là: văn hóa của một quốc gia.

Di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử. Ở Việt Nam, một di tích khi đủ các điều kiện sẽ được công nhận theo thứ tự: di tích cấp tỉnh, di tích cấp quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt. Tính đến tháng 8/2010, Việt Nam có hơn 40.000 di tích, thắng cảnh trong đó có hơn 3000 di tích được xếp hạng di tích quốc gia và hơn 5000 di tích được xếp hạng cấp tỉnh. Mật độ và số lượng di tích nhiều nhất ở 11 tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng với tỷ lệ chiếm khoảng 70% di tích của Việt Nam.
Cổng ngoài đền Ngọc Sơn
Khu trung tâm của cả quần thể di tích về kiến trúc cũng như thờ phụng là đền thờ chính với ba nếp đền, được sắp xếp theo hướng từ phía Nam lên phía Bắc.

Nếp thứ nhất gồm ba gian. Đó là nhà tiền tế, có tàn, có tán, có hương án và có đôi chim anh vũ. Nếp thứ hai cũng ba gian nhưng lòng nhà rộng hơn. Nền cao hơn so với nhà tiền tế. Hệ thống của bức bàn chạm cầu kì hơn, hình chữ thọ, con dơi, rồng, phượng, long mã chở Hà đồ, thần rùa mang Lạc thư... Ở cung ngoài, gian chính giữa đặt hương án, đồ thờ và sập thờ.
Nếp thứ ba thường gọi là cung cấm hoặc hậu cung, hẹp lòng nhưng cao hơn cả, hiện là nơi thờ Trần Hưng Đạo. Tượng cao 1,1m, ngồi trong khám thờ đặt trên bệ gạch xây cao tới 1m, hai bên có hai bậc tam cấp bằng đá. Tượng được thể hiện trong tư thế ngồi, đội mũ có ba vành trang trí, ở giữa chạm mặt nguyệt, hai cánh chuồn đứng. Tượng có khuôn mặt vuông vức, tô đỏ thắm, mắt nhìn thẳng, tai dài có thành có quách. Áo đại trào trang trí rồng mây, tay trái đặt trên đùi, tay phải cầm sách. Bên ngoài khám trên có hai pho tượng văn ban, võ ban đứng hầu. Ở hai bên khám hậu có hai ban thờ, bên phía Đông là bàn thờ chung "bản địa sơn thuỷ tôn thần". Bên phía Tây là bà vị đức Thánh: "Trần triều thượng phụ Hưng Đạo đại vương".
Giữa nếp thứ hai và nếp thứ ba có một nhà cầu để khách nghỉ chân, đồng thời là chỗ để đứng lễ.

Trần Thị Ánh Tuyết
Vi Thị Hồng Ngát
CẢM ƠN
THẦY CÔ VÀ CÁC BẠN
ĐÃ THEO DÕI BÀI THUYẾT TRÌNH NHÓM 6
Ngoài ra ở nếp nhà thứ hai nay, hai bên tường hồi có hai bàn thờ, thờ những vị góp công của tôn tạo đền miếu, bài vị to, trên viết dòng chữ "Tiền hậu công đức tả ban liệt vị" và "Tiền hậu công đức hữu ban liệt vị".
Đình Trấn Ba
Trong đền Ngọc Sơn có dành một gian bày tiêu bản Rùa Hồ Gươm. Tiêu bản này có từ năm 1968, lúc đó cân nặng 250 kg, chiều dài 2,1m, chiều rộng 1,2m.
Đình Trấn Ba được dựng mới trong Đền Ngọc Sơn nhắc nhở phải trấn chặn làn sóng văn hoá không lành mạnh tràn vào Thăng Long (điều này được ghi rõ ở trên bia đặt giữa đình, nay chỉ còn thác bản ở bảo tàng). Văn bia do cụ Phương Đình soạn còn có đoạn gợi ý người vãn cảnh Ngọc Sơn như sau: Nhìn ngắm quy mô hình thế Tháp bút, đài nghiên, đình Trấn Ba, xem văn chữ tất nảy sinh ý tưởng, sẽ thấy thật khác những gì người đời đã làm. Mặt sau đình Trấn Ba, hai câu đối có nội dung: Đất nước đang có giặc, đền đài, sông núi đều nhắc bảo phải phải đánh giặc giữ nước. Mặt trước Đình Trấn Ba cho biết: đất nước có truyền thống võ rạng, văn vững như núi.
Full transcript