Loading presentation...

Present Remotely

Send the link below via email or IM

Copy

Present to your audience

Start remote presentation

  • Invited audience members will follow you as you navigate and present
  • People invited to a presentation do not need a Prezi account
  • This link expires 10 minutes after you close the presentation
  • A maximum of 30 users can follow your presentation
  • Learn more about this feature in our knowledge base article

Do you really want to delete this prezi?

Neither you, nor the coeditors you shared it with will be able to recover it again.

DeleteCancel

Make your likes visible on Facebook?

Connect your Facebook account to Prezi and let your likes appear on your timeline.
You can change this under Settings & Account at any time.

No, thanks

CUỘC CẢI CÁCH DUY TÂN MINH TRỊ

No description
by

Lạc Lối

on 23 September 2014

Comments (0)

Please log in to add your comment.

Report abuse

Transcript of CUỘC CẢI CÁCH DUY TÂN MINH TRỊ

Bối Cảnh Lịch Sử
Của Cuộc Cải Cách Duy Tân Minh Trị
I. Trong nước

1. Chính trị
2. Kinh tế
3. Văn hóa-tư tưởng
II. Thế giới
CÔNG CUỘC
DUY TÂN MINH TRỊ
III. Ý NGHĨA SỰ KIỆN NÀY ĐỐI VỚI LỊCH SỬ NHẬT BẢN
CUỘC CẢI CÁCH DUY TÂN MINH TRỊ

Chính tri
̣
Mạc phủ tokugawa đã có những nỗ lực lớn để củng cố sức mạnh của chính quyền phong kiến tập trung nhằm đạt tới sự điều hành hữu hiệu, trực tiếp của chính quyền trung ương với các địa phương thông qua một thiết chế quân sự do Mạc phủ đứng đầu. Cùng với chính quyền shogun ( tướng quân) ở Edo, tại các địa phương quyền lực chính trị thực tế nằm trong tay các daimyo (lãnh chúa) quản chế khoảng 265 lãnh địa. Cơ chế chính trị mang tính chất phân quyền và quân sự này được gọi là “Chế độ Mạc phủ-công quốc”. Tính hiệu quả và quyền lực của thể chế này được thực hiện theo nguyên tắc tuân lệnh của các lãnh chúa địa phương với tướng quân. Trên thực tế chính quyền tokugawa là người nắm giữ quyền lực chính trị ở cấp trung ương, điều hành mọi hoạt động chung của đất nước.
Trong thiết chế chính trị thời Edo vẫn có sự tồn tại của chính quyền Thiên hoàng. Do nắm được ưu thế về chính trị và kinh tế trong hơn 2 thế kỉ, Mạc phủ Edo đã thâu tóm được quyền lực ở Nhật Bản thậm chí chính quyền này còn thực hiện một số biện pháp để hạn chế đến mức tối đa ảnh hưởng chính trị của hoàng.
Như vậy trải qua thời gian, thể chế chính trị Nhật Bản được thiết lập trên nguyên tắc 3 cực, có ý nghĩa như một tam giác quyền lực gồm: Hoàng triều (kyoto), Shogun (Edo), Daimyo (lãnh chúa các địa phương). Tính ổn định và thống nhất của nó phụ thuộc vào uy lực của chính quyền trung ương cũng như sự công nhận của các lãnh chúa địa phương với Mạc phủ. Thực tế lịch sử cho thấy, dù nắm giữ quyền lực chính trị với tư cách là chính quyền trung ương nhưng Mmạc phủ vẫn phải dựa vào uy danh của Hoàng gia, vẫn phải thừa nhận và bảo đảm những lợi ích phong kiến truyền thống của các daimyo.


Kinh tế
Khác với hầu hết các quốc gia phương Đông, thành thị Nhật Bản thời cận thế giữ vai trò nổi bật trong các chuyển biến kinh tế - xã hội. Ngay sau khi giành được quyền lực chính trị, chính quyền Edo đã rất coi trọng vấn đề thành thị và vai trò của công thương nghiệp trong các đô thị đối với sự phát triển của kinh tế Nhật Bản.
Trong số các thành thị của Nhật Bản thời Tokugawa thì Kyoto, Edo, Ọsaka và Nagasaki được coi là những trung tâm kinh tế quan trọng đồng thời là các mô hình thành thị tiên biểu của Nhật Bản cận thế. tất yếu dẫn đến sự xuất hiện và trỗi dậy của các tầng lớp xã hội mới. Sự phân lập giữa các ngành kinh tế kéo buôn bán những mặt hàng nhất định. Thành thị cảng ven biển còn là nơi tập trung của những tập đoàn kinh doanh lớn. theo đó là sự xuất hiện của các tầng lớp thương nhân chuyên nghiệp, chuyên kinh doanh
Những biến động trong nền kinh tế nông nghiệp và sức mua của xã hội
Sức phát triển của kinh tế công thương nghiệp trong các thanh thị
tăng lên đã khuyến khích sản xuất trong các thành thị đạt mức độ phát triển vượt bậc. Trên cả nước đã hình thành nhiều trung tâm thủ công nghiệp lớn.

Văn hóa tư tưởng
Càng về cuối thời kì Edo đời sống văn hóa Nhật Bản càng phong phú. Trong điều kiện xã hội của Nhật Bản có nhiều chuyển biến sâu sắc, giáo dục không còn là đặc quyền của một số tầng lớp bên trên của xã hội nữa mà đã phổ cập đông đảo đến nhiều tầng lớp xã hội.

II. Thế giới
Sau khi các cuộc cách mạng tư sản diễn ra ở Hà Lan, Anh và nhiều nước châu Âu khác, chủ nghĩa tư bản với tư cách là một hình thái kinh tế- xã hội mới đã xuất hiện và bắt đầu có những tác động to lớn đến đời sống kinh tế chính trị và thế giới. Nhờ có nền sản xuất công nghiệp và việc ứng dụng những thành tựu kỹ thuật tiên tiến mà năng xuất lao động trong các nướctư bản đã tăng cao. Sau các cuộc phát kiến địa lý lớn diễn ra vào cuối thế kỉ XV đầu thế kỉ XVI, một số cường quốc châu Âu mà tiêu biểu là Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh, Hà Lan, Pháp... đã ra sức tìm đường đến phương Đông và nhiều vùng đất khác trên thế giới để tìm kiếm thị trường, tiến hành các hoạt động buông bán và vơ vét tài nguyên tự nhiên, tạo nguồn tích lũy nguyên thủy cho quá trình công nghiệp hóa và phát triển ban đầu của chủ nghĩa tư bản.
Là một quốc gia có vị trí chiến lược ở khu vực Đông Bắc Á, lại từng là trung tâm kinh tế lớn của châu Á trong các thế kỉ XVI- XVIII, đến thế kỉ XIX, nhiều tàu buôn và chiến hạm của Nga, Hà Lan,Anh và Mỹ... đã đến Nhật Bản yêu cầu chính quyền Edo từ bỏ chính sách tỏa quốc để mở cửa thông thương với thế giới bên ngoài.
Trong nhận thức của một số chính giới phương Tây Nhật Bản vẫn là một nước mạnh so với nhiều dân tộc khác ở châu Á. Đó là một quốc gia được tổ chức tốt với thiết chế xã hội chặt chẽ. Người dân ở đây có tinh thần kỷ luật, ý chí tự cường và lòng tự tôn dân tộc cao độ.


1. Các lực lượng và trào lưu xã hội

Trước sự suy yếu của chính quyền Edo, thế lực kinh tế, chính trị của nhiều lãnh chúa đã mạnh lên so vơi tương quan chung. Để giảm nhẹ gánh nặng tài chính, các daimyo, đặc biệt là các lãnh chúa vùng Tây-Nam là những người đi đầu trong phong trào đòi hạn chế tới hủy bỏ chế độ sankin-kotai. Trong tình thế ngày càng bị cô lập và suy yếu, Mạc phủ cũng muốn thực hiện một số chính sách cải cách và thiết lập lại quan hệ với các lãnh chúa vốn là chỗ dựa tin cậy trước đây nhưng điều đó là không thể. Các lãnh chúa đã liên kết với phong trào cải cách và tạo nên một sức mạnh mới cho phong trào này.
Trước những khó khăn về kinh tế và chính trị không có cách giải quyết đã đẩy cuộc khủng hoảng của chế độ phong kiến Tokugawa thêm sâu sắc. Do không có đủ khả năng tài chính và năng lực quản lí mà vai trò điều hành uy lực của Mạc phủ Edo, với tư cách là chính quyền trung ương, đối với các địa phương cũng không còn hữu hiệu như trước. Sự phụ thuộc của giới chính trị cầm quyền với các ngành kinh tế phi nông nghiệp ngày một nặng nề. Nền tảng của chế độ phong kiến đã bị rung chuyển. Cơ cấu và quan hệ xã hội bị đảo lộn, cơ sở kinh tế của đẳng cấp võ sĩ đứng trước nguy cơ sụp đổ. Từ chỗ là đẳng cấp trung thành nhất, xương sống của chế độ phong kiến, một bộ phận trong giới võ sĩ đã gương cao ngọn cờ cải cách và là lực lượng quan trọng nhất đưa phong trào đi đến thành công.

2. Sự thiết lập chính quyền Minh Trị
Năm 1866 nạn mất mùa đói kém gây nên cuộc khủng hoảng lớn. Cuộc nổi dậy của nhân dân chứng tỏ nhân dân đang muốn thay đổi một thể chế xã hội đã khhong còn có khả năng làm cho đất nước phát triển. Phong trào đòi bình đẳng, đòi cung cấp thóc gạo và giảm tô lan rộng.
Vào năm 1865 quyền hành ở Choshu thuộc phái chống Shogun mạnh lên. Choshu tổ chức quân đội theo kiểu phương tây không phân biệt võ sĩ hay nông dân đều dùng súng và trang bị tàu chiến.
Satsuma là công quốc mạnh ở phía Nam đã liên minh với Choshu chống lại Shogun. Như vậy lực lượng phe chống đối dần dần chiếm thế mạnh. Tháng 6/1866, cuộc chinh phạt Shogun nhằm khuất phục Choshu bị thất bại.
9/11/1867, trước thế lực của các công quốc Choshu, Satsuma cùng Thiên hoàng, Shogun Keiki đã xin trao trả quyền cho Thiên hoàng Mutsuhito vừa lên ngôi mới 15 tuổi.

3. Các cải cách trọng yếu
Tháng 3/1868 chính quyền Minh Trị đã tuyên bố 5 lời thề “ngũ điều ngự thệ văn” thể hiện đường lối căn bản của chinh quyền mới và quyết tâm nhận văn minh phương Tây để canh tân đất nước, xây dựng 1 xã hội dựa trên nền tảng của luật pháp, quyền tự do của nhân dân cũng được tôn trọng.
Cụ thể là:
 Nghị hội phải được mở rộng rãi và quốc sự phải do công luận quyết định
 Trên dưới phải đồng lòng cùng nhau loa việc kinh tế- tài chính
 Trong chính thể mới không chỉ trăm quan văn võ mà cả tân cũng được phép theo đuổi chí nguyện của mình để không còn sự bất mãn.
 Những tập tục xấu xa của quá khứ phải phá bỏ và mọi việc phải dựa trên công pháp.
 Phải thu thập tri thức trên toàn thế giới để mở mang và chấn hưng nền tảng của Hoàng triều.

3.1. Chính tri
̣
Chính quyền mới đã khôi phục lại quyền lợi của Thái chính quan và được chia làm 3 viện: chính viện, tả viện, hữu viện. Về sau chế độ tam viện được cải cách nhiều lần. Và nó được duy trì đến năm 1885 khi chính quyền Minh Trị thực thi chế độ nội các. Chính quyền mới còn thiết lập 6 bộ: bộ dân vụ, bộ quốc phòng, bộ tài chính, bộ tư pháp, bộ hoàng cung, bộ ngoại giao.
Để xóa bỏ chế độ phân quyền và tiến thêm một bước trong việc xây dựng chế độ trung ương tập quyền,ngày 14/7/1871.chính phủ Minh Trị đã ban hành chiếu cải cách Haihanchikgen no mikotonori (Phế phiên lập huyện chiếu).Đồng thời, chính phủ bãi miễn các Chihanji, triệu tập tất cả về Tokyo và phái cử các quan lại mới làm Kenchiji (Huyện chi sự). Ban đầu Nhật Bản được chia làm 300 phủ huyện, nhưng đến tháng 11 cùng năm lại sát nhập lại thành 3 phủ 72 huyện. Có thể coi đây là 1 bước ngoặt trong việc cải cách thể chế chính trị ở Nhật Bản. Trên thực tế,” Sự kiện này đã đánh dấu sự chấm dứt vĩnh viễn vai trò của các daimyo với tư cách là các lãnh chúa phong kiến”.Song song với quá trình đó,những cải cách nhằm loại bỏ tàn dư của chế độ phong kiến cũng được tiến hành.Chính phủ cũng bải bỏ chế độ đẳng cấp tồn tại từ thời Edo bằng lệnh Shiminbyodo( tứ dân bình đẳng). Bốn đẳng cấp sĩ, nông, công,thương bị bãi bỏ và dân chúng được chia làm ba hạng. Tầng lớp có thân phận cao như Daimyo,Kuge trước đây được gọi là Kazoku (Hoa tộc), võ sĩ được gọi là Shizoku (Sĩ tộc),còn tầng lớp có thân phận thấp kém gọi là Heimin (Bình dân).Chính quyền mới cho phép Heimin được mang họ,công nhận quyền kết hôn với các tầng lớp Kazoku,Shizoku. Đó là những quyền nà vào thời phong kiến,các tầng lớp bình dân không thể có. Ngoài ra,giới bình dân có quyền tự do chuyển đổi chỗ ở,nghề nghiệp.

Để xóa bỏ tàn dư của chế độ phong kiến 14/7/1871,khi chính sách Haihanchiken (Phế phiên lập huyện) được thi hành, chính phủ Minh Trị đã thực hiện nhiều biện pháp căn bản để xây dựng thể chế quốc gia, giải thể chế độ Bakuhan,thành lập chính quyền mới và xây dựng nhà nước trung ương tập quyền. Quá trình cải cách đó có thể khái quát thành 5 nhiệm vụ cơ bản sau.
 Giải thể chế độ phong kiến và thiết lập xã hội cận đại
 Tạo dựng tổ chức hành chính,chế độ quan lại mới từ trung ương tới địa phương.
 Thi hành chính sách Sokusan kogu (thực sản hưng nghiệp),nhằm xây dựng chủ nghĩa tư bản ở Nhật Bản.
 Chấn áp sự phản loạn trong nước và duy trì nền độc lập trước những đe dọa của các cường quốc phương tây.
 Xây dựng chế độ tô thuế thống nhất để thay thế cho chế độ thuế khóa trước đây và duy trì nguồn thu.
Ngày 12/2/1889, bản “Đại Nhật Bản đế quốc hiến pháp” được chính thức ban hành. Đây là văn bản quan trọng trong thể chế chính trị của nhà nước mới.Theo tinh thần của hiến pháp,vị thế thiêng liêng và quyền lực của Thiên hoàng được khẳng định.Thiên hoàng là người duy nhất có thể đưa ra những quyết định trọng yếu của đất nước như tuyên chiến,giảng hòa hay kí kết các hiệp ước.Các bộ trưởng trong nội các chịu trách nhiệm và tuân thủ mệnh lệnh trực tiếp từ Thiên hoàng.Các bộ trưởng lục quân và hải quân cũng chịu trách nhiệm báo cáo trực tiếp với Thiên hoàng mà không cần phải tham vấn ý kiến hay thông qua nội các.
Như vậy,Hiến pháp Minh Trị là bản hiến pháp hiện đại đầu tiên ban hành ở châu Á.Nội dung và tinh thần của hiến pháp là hiện tượng điển hình của quan điểm xây dựng một nhà nước theo kiểu phương Tây nhưng vẫn kết hợp,duy trì những yếu tố truyền thống. Trong hiến pháp,vị thế của Thiên hoàng với tư cách là người đứng đầu đất nước được đề cao.Tuy nhiên,trên thực tế các thế lực xuất thân từ lãnh địa như Satsuma,Choshu... vẫn có nhiều ảnh hưởng và nắm quyền chi phối đời sống chính trị Nhật Bản.Các thế lực này chính là người đề xướng và kiến nghị đến Thiên hoàng những chủ trương lơn và quyết định quan trọng của đất nước.

3.2. Kinh tế
3.2.1. Về nông nghiệp
Để khẳng định quyền sở hữu ruộng đất,tập trung sức mạnh kinh tế và quyền lực chính trị của mình,chính quyền Minh Trị đã ban hành chính sách “Bản tịch bổng hoàn”,nghĩa là các Daimyo phải trao trả lại cho Thiên hoàng lãnh địa và thần dân các lãnh địa đó.Đây vốn là một vấn đề căn bản của xã hội phương Đông. Thực ra, chính sách quan trọng này cũng do địa phương chủ động đề suất.Từ 12/1868,lãnh chúa Himeji là Sakai Tadakuni đã dâng biểu kiến nghị về việc nên xóa bỏ chế độ kinh tế trước đây và thu hồi toàn bộ đất đai và đổi các Han thành phủ,huyện để phù hợp với thiết chế chính trị mới.Kiến nghị của Sakai Tadakuni cũng được đối phù hợp của Okubo Toshimichi và Kido Takayoshi.Nhờ sự khuyến cáo mạnh mẽ của 2 nhân vật này mà tháng 1/1869,các lãnh chúa của bốn Han đã lần lượt trao trả lại lãnh địa cho Thiên hoàng.Tháng 6/1869 chính phủ đã hạ lệnh cho tất cả các Han phải khẩn trương trao trả lại lãnh địa cho Thiên hoàng. Như vậy Nhật Bản có 302 huyện rất khác biệt về điều kiện tự nhiên và khả năng phát triển kinh tế.Ngoài ra, cũng có 3 phủ được thiết lập là Tokyo,Osaka,Kyoto.Đến năm 1872 do sự hợp nhất của các Ken nên Nhật Bản chỉ còn lại 72 Ken và về sau chỉ còn 43 Ken.Chính quyền Minh Trị đã tiến hành bổ nhiệm các lãnh chúa trước đây thành Tri phiên sự,có nhiệm vụ báo cáo tình hình về đẳng cấp võ sĩ,hoạt động kinh tế,bản đồ,hộ tịch...Tri phiên sự được nhận lương bổng của nhà nước nhưng thấp hơn nhiều so với thu nhập trước đây.
Trong những năm đầu sau khi thành lập,chính phủ vẫn tiếp tục cung cấp lương bổng cho các tầng lớp Hoa tộc và Sĩ tộc.Để giảm bớt gánh nặng tài chính 12/1873 chính phủ đã đặt ra thuế Karoku (gia tộc),Kanroku (quan lộc) và ban bố lệnh Chitsuroku Hokan Ho (Trật lộc phụng.hoàn phát) áp dụng cho những đối tượng có bổng lộc dưới 100 koku.Tháng 11/1874,phạm vi điều chỉnh của lệnh này được mở rộng đến những đối tượng có bổng lộc trên 100 koku.
Về nông nghiệp để không ngừng nâng cao năng suất, chính phủ đã du nhập kỹ thuật mới, cho nhập nhiều giống cây và gia sức từ Mỹ. Mặt khác, cho xây dựng nhiều trang trại kiểu mẫu đẻ nông dân học tập kinh nghiệm sản xuất. Năm 1872, chính phủ đã lập nông trường Naito Shinjuku và măn 1877 lại lập thêm nông trường Mita. Một số chính sách nhằm khuyến khích khai khẩn đất hoang cũng được ban hành
Về công nghiệp
Chính phủ mới cũng chú trọng tập trung đầu tư và phát triển một số ngành như khai thác mỏ và khoảng và khoáng sản, mỏ than do Mạc phủ và các Han quản lí.
Chính quyền Tokyo cũng đầu tư thêm nhiều các thiết bị kỹ thuật mới để phát triển ngành công nghiệp nặng này. Chính phủ tập trung khai thác mỏ vàng, bạc, đồng, than, sắt ...

3.3. Về xã hội
Việc chính phủ vẫn tiếp tục duy trì chế độ tô thuế từ thời Tokugawa tạm thời trong những năm đầu cũng gây nên sự bất bình đẳng ở mức thuế giữa nông dân và các tầng lớp xã hội. Sự bất bình đẳng này là một trong những nguyên nhân chính khiến cho các cuộc bạo động của nông dân đã nổ ra ở nhiều địa phương. Trong số đó, tiểu biểu là cuộc nổi dậy tháng 10/1868 và một số địa phương khác như Nara và Takasaki...
Việc xây dựng hệ thống ngân hàng cũng được chỉnh phủ chú ý vì đây là 1 phương pháp rất quan trọng để thu hút,tập trung nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển của chủ nghĩa tư bản. Năm 1869 với sự tham gia của các thương nhân giàu có chính phủ đã thành lập công ty kinh doanh và trao đổi tiền tệ.Năm 1882 ngân hàng Nhật Bản chính thức thành lập.
Để thúc đẩy sản xuất,quá trình lưu thông hàng hóa và tiền tệ,chính phủ Minh Trị đã tập trung xây dựng hệ thống thông tin liên lạc.Tháng 3/1871,dựa theo hệ thống bưu chính của Anh,mạng lưới bưu điện giữa 3 thành phố lớn đã được xây dựng.
Cùng với thông tin liên lạc, giao thông cũng là một trong những điều kiện không thể thiếu đối vói quá trình xây dựng chủ nghĩa tư bản đặc biệt là đường sắt và đường biển. Do có khó khăn về tài chính nên việc triển khai xây dựng các tuyến đường giao thông luôn gặp trở ngại. Vì vậy, chính phủ đã khuyến khích tư nhân đầu tư vào lĩnh vực giao thông.

3.4. Giáo dục
Về giáo dục, ngay sau khi được thiết lập, năm 1871 chính quyền Minh Trị đã lập bộ Giáo dục để quản lí và triển khai việc xây dựng một hệ thống giáo dục quốc gia với nội dung và tư tưởng hiện đại.Tháng 8/1872 bộ” Luật Giáo dục” cũng được ban hành với nội dung căn bản:
 Bãi bỏ hệ thông giáo dục phong kiến và chế độ phân biệt đẳng cấp.
 Mục đích của chế độ giáo dục là giảng dạy các môn khoa học thực tiễn cần thiết cho con người.
 Chi phí giáo dục do nhân dân đóng góp.
Dựa theo hệ thống giáo dục của Pháp,Nhật Bản được chia ra làm 8 học khu. Mỗi học khu lại được chia ra thành 32 khu trung học và mỗi khu trường trung học lại được chia thành 210 khu trường tiểu học.
Như vậy, trong sự nghiệp canh tân của Nhật Bản giáo dục được đặc biệt coi trọng bởi đây là ngành có vai trò đặc thù tạo nên nguồn lực trí thức cho sự phát triển căn bản và bền vững của tất cả các ngành sản suất,kỹ thuật,quản lý khác của Nhật Bản.

Như vậy là trên cơ sở những tiền đề kinh tế xã hội được hình thành qua các thời kì lịch sử vào thời Edo, giữa thế kỉ XIX ở Nhật Bản đã từng bước hình thành và diễn ra một phong trào dân tộc mạnh mẽ phong trào đó đã từng bước chuyển thành một cuộc cải cách to lớn. Cuộc cải cách đó không chỉ có ý nghĩa sâu sắc đối với sự phát triển của lịch sử Nhật Bản mà còn có những ảnh hưởng mạnh mẽ đối với sự vận động lịch sử và việc lựa chọn con đường phát triển của nhiều dân tộc phương Đông.
Có thể thấy, cải cách ở Nhật Bản không chỉ là một quá trình vận động dân tộc từ thấp đến cao mà đồng thời là quá trình trưởng thành và hoàn thiện không ngừng về tư tưởng cùng những chủ chương lớn trong việc xây dựng một mô hình nhà nước mới.
Có thể coi, thắng lợi của cải cách Minh Trị là thắng lợi của quá trình chuyển biến trong nhận thức của nhiều tầng lớp xã hội Nhật Bản, đấu tranh cho sự tồn vong của dân tộc bằng việc tìm kiếm những mô hình trong thể chế chính trị Âu - Mỹ để hướng tới xây dựng một nhà nước mới cường thịnh.

Vị thế thiêng liêng của Thiên Hoàng được phát huy vừa có ý nghĩa là ngọn cờ tập hợp lực lượng,sức mạnh dân tộc vừa là trung gian điều hòa các xung đột chính trị và ở mức độ nào đó có thể tham gia trực tiếp vào đời sống chính trị đất nước. Với vị thế đó, mặc dù quyền lực chính trị thức tế luôn nằm trong tay những thế lực cải cách từ địa phương nhưng vai trò truyền thống của Thiên hoàng đã được phục hưng sau gần 700 năm giữ vị trí là biểu tượng của tinh thần Nhật Bản.
Những kinh nghiệm chỉ huy quân đội, tổ chức, quản lý mà các nhà cải cách đã từng trải qua trong việc duy trì sự ổn định phát triển ở các địa phương đã để lại những kinh nghiệm quý báu cho phong trào cải cách.
Họ đã từng bước thay đổi nhận thức cũng như quan điểm của mình để đấu tranh cho một nước Nhật Bản cường thịnh. Có thể cho rằng, cải cách Minh Trị trước hết là một phong trào dân tộc vì chủ quyền dân tộc mặc dù hệ quả cuối cùng của cuốc đấu tranh đó đã dẫn đến việc một nhà nước tư bản chủ nghĩa được thiết lập đầu tiên ở châu Á.
Full transcript