Loading presentation...

Present Remotely

Send the link below via email or IM

Copy

Present to your audience

Start remote presentation

  • Invited audience members will follow you as you navigate and present
  • People invited to a presentation do not need a Prezi account
  • This link expires 10 minutes after you close the presentation
  • A maximum of 30 users can follow your presentation
  • Learn more about this feature in our knowledge base article

Do you really want to delete this prezi?

Neither you, nor the coeditors you shared it with will be able to recover it again.

DeleteCancel

Make your likes visible on Facebook?

Connect your Facebook account to Prezi and let your likes appear on your timeline.
You can change this under Settings & Account at any time.

No, thanks

Slide de tai nhom 3

Best practices on how to use simple flash animations in combination with prezi Path and Frames - to achieve a strong narrative.
by

Nguyen Bac

on 16 December 2014

Comments (0)

Please log in to add your comment.

Report abuse

Transcript of Slide de tai nhom 3

I. Những vấn đề cơ bản

Nhóm: 3
Đề tài:
Khái Niệm
ODA: Là nguồn vốn đầu tư gián tiếp
- Chính thức (
O
fficial): cho Nhà nước vay
- Phát triển (
D
evelopment): phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở nước được đầu tư
- Hỗ trợ, viện trợ (
A
ssistance): là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp với thời gian vay dài


1. Khái niệm ODA
2. Đặc điểm vốn ODA

NỘI DUNG TRÌNH BÀY

I. Những vấn đề cơ bản
II. Nguồn vốn ODA tại Việt Nam
III. Thuận lợi, khó khăn và giải pháp đối với nguồn vốn ODA tại Việt Nam


Khái quát về nguồn vốn ODA tại Việt Nam
Ngày 8/11/1993, Hội nghị bàn tròn về ODA dành cho Việt Nam đã được tổ chức tại Paris, Pháp

Tổng vốn ODA 1993 đến 2012 trên 58,4 tỷ USD, chiếm 71,69% tổng vốn ODA cam kết, trong đó vốn vay ưu đãi đạt 51,6 tỷ USD và chiếm khoảng 88,4%, vốn ODA không hoàn lại đạt 6,76 tỷ USD và chiếm khoảng 11,6%.
=> Các nước cung cấp vốn ODA đều có những chính sách và ưu tiên riêng của mình, tập trung vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay có khả năng kỹ thuật và tư vấn (về công nghệ, kinh nghiệm quản lý). Đồng thời, đối tượng ưu tiên của các nước cung cấp vốn ODA cũng có thể thay đổi theo từng giai đoạn cụ thể.
ODA là nguồn bổ sung vốn quan trọng cho đầu tư phát triển.
ODA giúp cho việc tiếp thu những thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại và phát triển nguồn nhân lực
ODA giúp cho việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế
ODA góp phần tăng khả năng thu hút FDI và tạo điều kiện để mở rộng đầu tư phát triển
3. Vai trò của nguồn vốn ODA
II. Nguồn vốn ODA tại Việt Nam

Tìm hiểu nguồn vốn ODA
Tính đến 9/2013: tổng vốn ODA cam kết hỗ trợ Việt Nam đã chạm ngưỡng 80 tỷ USD; trong đó, dự kiến vốn giải ngân là 58 tỷ USD
Chúng ta có thể hiểu ODA bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại, hoặc tín dụng ưu đãi của các Chính phủ, các tổ chức liên Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liên hợp quốc (United Nations -UN), các tổ chức tài chính quốc tế dành cho các nước đang và chậm phát triển.
- Vốn ODA là nguồn vốn có tính ưu đãi của các nước phát triển, các tổ chức quốc tế đối với các nước đang và chậm phát triển.
- Vốn ODA thường kèm theo các điều kiện ràng buộc nhất định:
+ Tuỳ theo khối lượng vốn ODA và loại hình viện trợ mà vốn ODA có thể kèm theo những điều kiện ràng buộc nhất định. Những điều kiện ràng buộc này có thể là ràng buộc một phần và cũng có thể là ràng buộc toàn bộ về kinh tế, xã hội và thậm chí cả ràng buộc về chính trị. Thông thường, các ràng buộc kèm theo thường là các điều kiện về mua sắm, cung cấp thiết bị, hàng hoá và dịch vụ của nước tài trợ đối với nước nhận tài trợ.
Ví dụ, Bỉ, Đức và Đan Mạch yêu cầu khoảng 50% viện trợ phải mua hàng hóa và dịch vụ của nước mình...
+ Nguồn vốn ODA luôn chứa đựng cả tính ưu đãi cho nước tiếp nhận và lợi ích của nước viện trợ. Các nước viện trợ nói chung đều không quên dành được lợi ích cho mình, vừa gây ảnh hưởng chính trị, vừa thực hiện xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tư vấn vào nước tiếp nhận viện trợ.

- ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ:
Vốn ODA không có khả năng đầu tư trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩu trong khi việc trả nợ lại dựa vào xuất khẩu thu ngoại tệ. Do đó, các nước nhận ODA phải sử dụng sao cho có hiệu quả, tránh lâm vào tình trạng không có khả năng trả nợ.

4. Các hình thức viện trợ ODA
-
Hỗ trợ cán cân thanh toán
Hỗ trợ cán cân thanh toán thường có nghĩa là hình thức hỗ trợ tài chính trực tiếp, nhưng đôi khi lại là hỗ trợ hiện vật hoặc hỗ trợ nhập khẩu. Ngoại tệ hoặc hàng hoá chuyển vào trong nước thông qua hình thức hỗ trợ cán cân thanh toán có thể được chuyển thành hỗ trợ ngân sách. Điều này xảy ra khi hàng hoá nhập vào nhờ hình thức này được bán ra trên thị trường trong nước, và số thu nhập bằng bản tệ được đưa vào ngân sách của Chính Phủ.
- Tín dụng thương mại
Hình thức hỗ trợ bằng tín dụng thương mại là hình thức cho vay với các điều khoản mềm như: lãi suất thấp, hạn trả dài…. Trên thực tế hình thức hỗ trợ tín dụng thương mại là một dạng hỗ trợ có ràng buộc.
- Viện trợ chương trình
Viện trợ chương trình là hình thức viện trợ khi đạt được một hiệp định với đối tác viện trợ nhằm cung cấp một khối lượng ODA cho mục đích tổng quát với thời hạn nhất định, mà không phải xác định chính xác nó sẽ phải được sử dụng như thế nào.
- Hỗ trợ dự án
Hỗ trợ dự án là hình thức chủ yếu của viện trợ chính thức. Hỗ trợ dự án thường liên quan đến hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật và trên thực tế thường có cả hai yếu tố này: Hỗ trợ cơ bản thường chủ yếu về xây dựng như: đường xá, cầu cống, trường học, bệnh viện, hệ thống viễn thông …. Thường các dự án này có kèm theo một bộ phận của viện trợ kỹ thuật, dưới dạng thuê chuyên gia nước ngoài để kiểm tra những hoạt động nhất định nào đó, hoặc để soạn thảo, xác nhận các báo cáo cho các đối tác tham gia nhận viện trợ ; Hỗ trợ kỹ thuật thường chủ yếu chỉ tập trung vào chuyển giao trí thức hoặc tăng cường lập cơ sở kế hoạch, cố vấn, nghiên cứu tình hình cơ bản, nghiên cứu trước khi đầu tư: Quy hoạch, lập các luận chứng kinh tế, kỹ thuật…. Chuyển giao trí thức có thể là chuyển giao công nghệ thông thường, nhưng quan trọng hơn là đào tạo về kỹ thuật phân tích kinh tế, quản lý, thống kê, thương mại, hành chính nhà nước, các vấn đề xã hội...
Hiện có khoảng 50 nhà tài trợ song phương và đa phương đang hoạt động, cung cấp nguồn ODA và vốn vay ưu đãi cho nhiều ngành, lĩnh vực kinh tế, xã hội của Việt Nam.
Tổng vốn ODA ký kết trong các điều ước quốc tế cụ thể từ năm 1993 đến 2012 đạt trên 58,4 tỷ USD, chiếm 71,69% tổng vốn ODA cam kết, trong đó vốn vay ưu đãi đạt 51,6 tỷ USD và chiếm khoảng 88,4%, vốn ODA không hoàn lại đạt 6,76 tỷ USD và chiếm khoảng 11,6%.  
Trong hai thập kỷ qua, tổng nguồn vốn ODA giải ngân đạt 37,59 tỷ USD, chiếm trên 66,92% tổng vốn ODA ký kết.

(Tài chính) Theo Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các nhà tài trợ quốc tế đã cam kết hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cho Việt Nam lên tới 80 tỷ USD trong giai đoạn 1993-2012, góp phần đưa Việt Nam gia nhập nhóm các nước có mức thu nhập trung bình thấp.
Cách đây 20 năm, ngày 8/11/1993, Hội nghị bàn tròn về ODA dành cho Việt Nam đã được tổ chức tại Paris, Pháp. Sự kiện quan trọng này chính thức đánh dấu sự mở đầu mối quan hệ hợp tác phát triển giữa nước Việt Nam trên đường đổi mới và cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế.
Tình hình thu hút vốn tại Việt Nam
Có thể thấy mức giải ngân vốn ODA đã có tiến bộ qua các năm song chưa tương xứng với mức cam kết.
Riêng 2 năm trở lại đây, nhờ quyết tâm cao của Chính phủ, nỗ lực của các ngành, các cấp và nhà tài trợ, giải ngân của một số nhà tài trợ quy mô lớn (Nhật Bản, Ngân hàng Thế giới - WB) đã có tiến bộ vượt bậc. Tỷ lệ giải ngân vốn ODA của Nhật Bản tại Việt Nam năm 2011 đứng thứ nhì và năm 2012 đứng thứ nhất thế giới, tỷ lệ giải ngân của WB tại Việt Nam tăng từ 13% năm 2011 lên 19% năm 2012.

Theo số liệu thống kê, tỷ trọng ODA vốn vay trong tổng vốn ODA tăng dần từ 80% trong thời kỳ 1993-2000 lên 93% thời kỳ 2006-2010 và gần đây đã ở mức 95,7% trong hai năm 2011-2012.


Chính phủ Việt Nam có chính sách sử dụng ODA để hỗ trợ các ngành, lĩnh vực và địa phương ưu tiên, nhất là đối với những địa bàn có nhiều khó khăn trong từng thời kỳ phát triển.

Hiện vẫn tồn tại tình trạng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA không đồng đều giữa các tỉnh trên địa bàn các vùng trong cả nước trong đó vùng đồng bằng sông Hồng tiếp nhận nguồn vốn ODA lớn nhất với 10,42 tỷ USD và vùng Tây Nguyên tiếp nhận nguồn vốn ODA thấp nhất với 1,36 tỷ USD.


Nhật Bản là nhà tài trợ song phương lớn nhất cho Việt Nam trong giai đoạn 1993-2012 với khoảng 19,81 tỷ USD. Pháp đứng thứ hai với 3,91 tỷ USD. Hàn Quốc đứng thứ ba với 2,33 tỷ USD.
WB đứng đầu trong nhóm 6 ngân hàng phát triển với khoảng 20,1 tỷ USD. Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đứng thứ hai với 14,23 tỷ USD vốn ODA cam kết.

- ODA giúp các nước tiếp nhận phát triển nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường. Một lượng ODA lớn được các nhà tài trợ và các nước tiếp nhận ưu tiên dành cho đầu tư phát triển giáo dục, đào tạo, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của lĩnh vực này, tăng cường một bước cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc dạy và học của các nước đang phát triển. Bên cạnh đó, một lượng ODA khá lớn cũng được dành cho các chương trình hỗ trợ lĩnh vực y tế, đảm bảo sức khoẻ cộng đồng. Nhờ có sự tài trợ của cộng đồng quốc tế, các nước đang phát triển đã gia tăng đáng kể chỉ số phát triển con người của quốc gia mình.
- ODA giúp các nước đang phát triển xoá đói, giảm nghèo. Xoá đói nghèo là một trong những tôn chỉ đầu tiên được các nhà tài trợ quốc tế đưa ra khi hình thành phương thức hỗ trợ phát triển chính thức. Mục tiêu này biểu hiện tính nhân đạo của ODA. Trong bối cảnh sử dụng có hiệu quả, tăng ODA một lượng bằng 1% GDP sẽ làm giảm 1% nghèo khổ, và giảm 0,9% tỷ lệ tỷ vong ở trẻ sơ sinh. Và nếu như các nước giàu tăng 10
tỷ USD viện trợ hàng năm sẽ cứu được 25 triệu người thoát khỏi cảnh đói nghèo.
- ODA là nguồn bổ sung ngoại tệ và làm lành mạnh cán cân thanh toán quốc tế của các nước đang phát triển. Đa phần các nước đang phát triển rơi vào tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai, gây bất lợi cho cán cân thanh toán quốc tế của các quốc gia này. ODA, đặc biệt các khoản trợ giúp của IMF có chức năng làm lành mạnh hoá cán cân vãng lai cho các nước tiếp nhận, từ đó ổn định đồng bản tệ.
- ODA được sử dụng có hiệu quả sẽ trở thành nguồn lực bổ sung cho đầu tư tư nhân. Ở những quốc gia có cơ chế quản lý kinh tế tốt, ODA đóng vai trò như nam châm “hút” đầu tư tư nhân theo tỷ lệ xấp xỉ 2 USD trên 1 USD viện trợ. Đối với những nước đang trong tiến trình cải cách thể chế, ODA còn góp phần củng cố niềm tin của khu vực tư nhân vào công cuộc đổi mới của đất nước.
- ODA giúp các nước đang phát triển tăng cường năng lực thể chế thông qua các chương trình, dự án hỗ trợ công cuộc cải cách pháp luật, cải cách hành chính và xây dựng chính sách quản lý kinh tế phù hợp với thông lệ quốc tế.
Tác động tích cực

Về kinh tế, nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận gỡ bỏ dần hàng rào thuế quan bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ và bảng thuế xuất nhập khẩu hàng hóa của nước tài trợ. Nước tiếp nhận ODA cũng được yêu cầu từng bước mở cửa thị trường bảo hộ cho những danh mục hàng hóa mới của nước tài trợ; yêu cầu có những ưu đãi đối với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài như cho phép họ đầu tư vào những lĩnh vực hạn chế, có khả năng sinh lời cao.
Không phải lúc nào ODA cũng phát huy tác dụng đối với đầu tư tư nhân. Ở những nền kinh tế có môi trường kinh doanh bị bóp méo nghiêm trọng thì viện trợ không những không bổ sung mà còn “loại trừ” đầu tư tư nhân. Điều này giải thích tại sao các nước đang phát triển. Mắc nợ nhiều, mặc dù nhận được một lượng ODA lớn của cộng đồng quốc tế song lại không hoặc tiếp nhận được rất ít vốn FDI.
Nguồn vốn viện trợ ODA còn được gắn với các điều khoản mậu dịch đặc biệt nhập khẩu tối đa các sản phẩm của họ. Cụ thể là nước cấp ODA buộc nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận một khoản ODA là hàng hóa, dịch vụ do họ sản xuất.
Nước tiếp nhận ODA tuy có toàn quyền quản lý sử dụng ODA nhưng thông thường, các danh mục dự án ODA cũng phải có sự thỏa thuận, đồng ý của nước viện trợ, dù không trực tiếp điều hành dự án nhưng họ có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia.
Tác động của tỷ giá hối đoái có thể làm cho giá trị vốn ODA phải hoàn lại tăng lên.
Ngoài ra, tình trạng thất thoát, lãng phí; xây dựng chiến lược, quy hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA vào các lĩnh vực chưa hợp lý; trình độ quản lý thấp, thiếu kinh nghiệm trong quá trình tiếp nhận cũng như xử lý, điều hành dự án, … khiến cho hiệu quả và chất lượng các công trình đầu tư bàng nguồn vốn này còn thấp ,… có thể đẩy nước tiếp nhận rơi vào nợ nần.

Tác động tiêu cực
Ngành năng lượng và công nghiệp có tổng vốn ODA được ký kết trong thời kỳ 1993-2012 đạt khoảng 10 tỷ USD, trong đó viện trợ không hoàn lại không đáng kể, khoảng 0,1%. Tổng số nhà tài trợ là 32, trong đó có 26 nhà tài trợ song phương và 6 nhà tài trợ đa phương. 

Lĩnh vực giao thông vận tải và bưu chính viễn thông được ưu tiên tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn ODA lớn nhất trong tổng số 7 lĩnh vực khoảng 16,47 tỷ USD, trong đó 15,9 tỷ USD là ODA vốn vay.
Trong thời kỳ 1993-2012, ngành giao thông vận tải đã hoàn thành và đang thực hiện 132 dự án, trong đó đã hoàn thành 83 dự án với vốn ODA đạt 5 tỷ USD và đang thực hiện 49 dự án với số vốn ODA khoảng 12 tỷ USD.
III. Thuận lợi, khó khăn và giải pháp
đối với nguồn vốn ODA tại Việt Nam

Thứ nhất
: Đây là nguồn vốn viện trợ không hoàn lại hoặc với lãi suất rất thấp và có thời hạn rất dài cho nên chúng ta có thể tận dụng để phát triển cơ sở hạ tầng qua đó tạo môi trường thuận lợi thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài khác như FDI hay các nguồn vốn tài trợ khác của các công ty, tổ chức kinh tế quốc tế khác. Điển hình thông qua các dự án ODA, hệ thống đường bộ được phát triển đáng kể từ quốc lộ 1A, 10, 18, 9, đường xuyên á ( đoạn thành phố hồ chí minh - Mộc bài),các cầu lớn (mỹ thuận,cần thơ..);nâng cấp và mở rộng các cảng biển như cái lân ( hải phòng ),sài gòn ,tiên sa ( đà nẵng), xây dựng cảng hàng không quốc tế tân sơn nhất ,phát triển giao thông nông thôn các tỉnh.Ngoài ra ng vốn oda đã đầu tư phát triển ngành điện bao gồm phát triển nguồn điện (như các dự án Phú Mỹ 1 ,Phú Mỹ 2,Ô Môn ,phả lại ,hàm thuận - đa my ,đại ninh,đa nhim)và phát triển hệ thống đường dây 500 kv playku - nhà bè ,gần 50 trạm biến áp của cả nước, cải tạo nâng cấp mạng lưới điện thành thị và nông thôn ở hơn các tỉnh và thành phố.
Thứ hai
: xóa đói giảm nghèo
Thứ ba
: tăng cường bảo vệ môi trường và phát triển bền vững : nhiều dự án oda hỗ trợ bảo vệ môi trường ở các thành phố lớn. Nhiều dự án đã dành cho việc tăng cường hệ thống cấp nước sạch ở đô thị và nông thôn ,cải thiện hệ thống thoát nước thải ở các thành phố lớn .Bảo tồn các di tích văn hóa hay các danh lam thắng cảnh.
Thứ tư
: tăng cường thể chế .ODA đã góp phần tăng cường năng lực và thể chế thông qua các chương trình,dự án hỗ trợ công cuộc cải cách pháp luật ,cải cách hành chính và xây dựng chính sách quản lý kinh tế theo lịch trình phù hợp với chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước và lộ trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế ,tăng cường năng lực con người... Thông qua các dự án ODA ,hàng ngàn cán bộ việt nam được đào tạo và đào tạo lại,nhiều công nghệ sản xuất kỹ năng quản lý hiện đại được chuyển giao.
Thứ năm
: quan hệ đối tác chặt chẽ : quan hệ giữa phía việt nam và các nhà tài trợ đã được thiết lập trên cơ sơ quan hệ đối tác,đề cao vai trò làm chủ của bên tiếp nhận ODA thông qua các hoạt động hài hòa và tuân thủ các quy trình và thủ tục ODA ,thể hiện trên nhiều lĩnh vực .
Do ODA có 1 phần là vốn vay với lãi suất thấp và thời hạn vay dài .Mặc dù ta thừa nhận đây là 1 ưu điểm nổi trội của ODA tuy nhiên ta phải thừa nhận thực tế vay thì phải đi kèm với ngĩa vụ trả nợ do thời hạn vay dài nên sẽ dẫn tới gánh nặng cho tương lai. Đây là 1 sự rủi ro tiềm ẩn đối với khả năng thanh toán của 1 quốc gia và việt nam chúng ta cũng nằm trong tình trạng này .

Phải chấp nhận khi sử dụng ng vốn này chính là những điều kiện của các nước cho ODA: mở rộng hàng rào thuế quan ,sự phụ thuộc về thương mại quốc tế.Nguồn vốn ODA còn được gắn với các khoản mậu dịch đặc biệt nhập khẩu tối đa các sản phẩm của họ .Cụ thể là nước cấp oda buộc nước tiếp nhận oda phải chấp nhận 1 khoản oda là hàng hóa ,dịch vụ do họ sản xuất .Nước tiếp nhận oda tuy có toàn quyền quản lý sử dụng oda nhưng thông thường ,các danh mục dự án oda cũng phải có sự thỏa thuận ,đồng ý của các nước viện trợ ,dù không trực tiếp điều hành dự án nhưng họ có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia......

Giải pháp thu hút và sử dụng ODA
Đổi mới và đẩy mạnh công tác quy hoạch
Nâng cao năng lực trong việc thu hút và sử dụng ODA
Giải quyết tốt vấn đề đất đai
Đào tạo, bố trí, sử dụng có hiệu quả cán bộ làm công tác kinh tế đối ngoại, xúc tiến đầu tư và quản lý các dự án ODA
Kiện toàn bộ máy chính quyền các cấp, các ngành, đẩy mạnh tiến trình cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư
Nâng cao năng lực quản lý điều hành của bộ máy quản lý nhà nước và thực hiện đề án
Trang bị hệ thống công nghệ thông tin, tạo kết nối với các nhà tài trợ và các Bộ, ngành TW trong việc tìm nguồn ODA cho tỉnh
Lập đề cương sơ bộ, đề cương chi tiết cho các dự án ODA cụ thể để làm việc với các nhà tài trợ, các Bộ, ngành TW
Tác động của ODA
> <
thuận lợi
khó khăn
Nhóm: 3
TÌM HIỂU VỀ NGUỒN VỐN ODA

Cơ cấu ngành sử dụng nguồn vốn ODA

Những lĩnh vực ưu tiên chủ yếu từ nguồn vốn ODA là xây dựng cơ sở hạ tầng, năng lượng, công nghệ, nguồn vốn không hoàn lại thường dành cho các dự án xóa đói giảm nghèo…Cụ thể :

Trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn
: Các chương trình và dự án ODA đã góp phần cải thiện và phát triển sản xuất nông nghiệp, thay đổi bộ mặt nông thôn Việt Nam, như: các chương trình phát triển thủy lợi, giao thông nông thôn, nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, phát triển lưới điện nông thôn… 
Các dự án hỗ trợ phát triển hạ tầng nông thôn đã góp phần cải thiện đời sống người dân các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là trong việc tiếp cận tới các dịch vụ công trong các lĩnh vực y tế, giáo dục..., góp phần quan trọng vào công tác xoá đói giảm nghèo tại các vùng nông thôn. 
Bên cạnh đó, các chương trình, dự án ODA cũng đã hỗ trợ công tác nghiên cứu khoa học, công nghệ nông nghiệp giúp nâng cao chất lượng, an toàn sản phẩm nông nghiệp, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm.


Về năng lượng và công nghiệp
: Nhờ có ODA, Việt Nam đã xây dựng hàng loạt các dự án nguồn thuỷ điện, nhiệt điện và năng lượng tái tạo, lưới điện và trạm phân phối... góp phần nâng cao năng lực sản xuất, truyền tải, phân phối, quản lý hệ thống điện, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng phụ tải cao với tốc độ 15%-17%/năm.


Về giao thông vận tải và bưu chính viễn thông
: Đây là ngành tiếp nhận vốn ODA nhiều nhất. Trong thời kỳ 1990-2013, ngành Giao thông Vận tải đã hoàn thành và đang thực hiện 132 dự án với tổng vốn ODA hơn 17 tỷ USD, trong đó đã hoàn thành 83 dự án với vốn ODA đạt 5 tỷ USD và đang thực hiện 49 dự án với số vốn ODA khoảng 12 tỷ USD. Các chương trình, dự án ODA trong lĩnh vực này đã hỗ trợ Việt Nam xây dựng và hoàn thiện hệ thống giao thông quốc gia cũng như giao thông vùng và tại các tỉnh, thành.

Trong y tế và giáo dục đào tạo
: Tất cả các cấp học đều nhận được sự hỗ trợ thông qua các chương trình và dự án ODA, giúp tăng cường năng lực dạy và học, hỗ trợ trẻ em bị thiệt thòi được đến trường, đẩy mạnh giáo dục cho tất cả mọi người. Bên cạnh đó, còn phải kể đến các dự án hỗ trợ kỹ thuật, chủ yếu bằng viện trợ không hoàn lại, đã đào tạo và đào tạo lại cho hàng vạn cán bộ Việt Nam ở các cấp về nhiều lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, công nghệ, quản lý kinh tế, tài chính ngânhàng,quảntrịcông... 
Các chương trình và dự án ODA đưa tới Việt Nam những chuyên gia quốc tế từ khu vực và thế giới, thông qua đó, cán bộ Việt Nam đã học hỏi được không những về chuyên môn mà còn phong cách làm việc chuyên nghiệp, tinh thần trách nhiệm đối với công việc được giao.
Các chương trình, dự án ODA đã tăng cường cơ sở vật chất và kỹ thuật cho công tác khám và chữa bệnh, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, xây dựng cơ sở sản xuất kháng sinh, trung tâm truyền máu quốc gia... 
Ngoài ra, nhiều chương trình mục tiêu quốc gia về y tế, phòng chống HIV/AIDS và các bệnh truyền nhiễm được thực hiện bằng vốn ODA đã đem lại hiệu quả tích cực. Sự hỗ trợ của ODA đối với ngành y tế trong thời gian qua đã góp phần vào những tiến bộ đạt được trong việc thực hiện các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDG) liên quan tới y tế.

Trong phát triển đô thị và bảo vệ môi trường
: Từ nguồn vốn ODA, hầu hết các thành phố, thị xã, thị trấn đã được xây dựng mới, cải tạo hoặc mở rộng hệ thống cung cấp nước sinh hoạt, thoát nước và một số nhà máy xử lý nước thải. Nhiều thành phố ở Việt Nam đã được cải thiện về môi trường bằng các dự án vốn ODA, điển hình thành công là dự án kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè ở thành phố Hồ Chí Minh, với sự hỗ trợ vốn vay của Ngân hàng Thế giới (WB), dòng kênh tưởng như đã chết này lại hồi sinh, trở thành con kênh xanh, sạch, đẹp.

Trong lĩnh vực khoa học, công nghệ
: Nhiều kỹ năng và kinh nghiệm quản lý tiên tiến được chuyển giao cho các cơ quan, các trung tâm nghiên cứu, cũng như các bộ, ngành và địa phương với sự hỗ trợ của các chương trình, dự án ODA về công nghệ cao, tiên tiến trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, công nghệ xây dựng... Dự án phát triển hạ tầng khu công nghệ cao và Trung tâm vũ trụ Việt Nam tại khu Công nghệ cao Hòa Lạc, Hà Nội do Nhật Bản tài trợ là một thí dụ điển hình.


+ Trong thời gian qua, cộng đồng tài trợ tại Việt Nam đã được mở rộng rất nhiều và hiện có 51 nhà tài trợ, bao gồm 28 nhà tài trợ song phương và 23 nhà tài trợ đa phương đang hoạt động thường xuyên tại Việt Nam. Ngoài các nước là thành viên của tổ chức OECD – DAC còn có các nhà tài trợ mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ, Hung – ga – ry , Séc, …
+ Trong thời kì 1993 – 2012, tổng vốn ODA giải ngân đạt 37,59 tỷ USD, chiếm 48,13% tổng vốn ODA cam kết và chiếm 64,37% tổng vốn ODA kí kết.


ODA và những con số
Trong khi đó, với 37,597 tỷ USD vốn giải ngân, rất nhiều chương trình, dự án sử dụng vốn ODA đã được đưa vào sử dụng, tạo nền tảng cho tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam, góp phần xóa đói, giảm nghèo.
Chỉ tính riêng lĩnh vực giao thông - vận tải, có thể kể hàng loạt dự án lớn, có vai trò quan trọng, như Quốc lộ 1A, Quốc lộ 3, 5, 10; đường cao tốc TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây; đường xuyên Á TP.HCM - Mộc Bài kết nối với hệ thống đường bộ Campuchia và Thái Lan trong khuôn khổ hợp tác Tiểu vùng Mê Kông (GMS); hay hầm đường bộ qua đèo Hải Vân, cầu Cần Thơ, cầu Thanh Trì, cầu Bãi Cháy, cảng Tiên Sa, Sân bay quốc tế Nội Bài...

Qua việc phân tích thực trạng huy động, quản lý và sử dụng vốn ODA trong thời gian qua cho thấy rằng ODA có một vai trò quan trọng hỗ trợ cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam và trên thực tế những chương trình, dự án sử dụng vốn ODA được thực hiện tập trung vào những lĩnh vực, ngành mà Việt Nam đang cần được hỗ trợ như: đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường. Đó là những lĩnh vực đầu tư có tính xúc tác vừa có tác dụng trước mắt đồng thời là cơ sở lâu dài cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Trong thời gian vừa qua việc quản lý sử dụng nguồn vốn ODA đã có hiệu quả trong việc sử dụng vốn: Nhận thức của chúng ta về nguồn vốn ODA đã đúng đắn, đã có kinh nghiệm trong việc tiếp nhận ODA, công tác quản lý ODA không còn nhiều chồng chéo và đã rõ ràng so với những năm trước 2009, đặc biệt luôn lưu ý đến khía cạch ODA luôn gắn liền với các điều kiện chính trị. Tuy nhiên bằng chính sách đối ngoại của mình chúng ta có thể đa phương hóa quan hệ hỗ trợ phát triển của mình, sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA phục vụ phát triển đất nước trong khi nắm vững độc lập, tự chủ của đất nước. Chúng ta cần phải thể hiện được tính chủ động của mình trong việc sử dụng ODA, đặc biệt trong việc xây dựng, hình thành dự án, thẩm định các văn kiện dự án, hình thành cơ chế về quản lý điều hành.
“Trong giai đoạn phát triển vừa qua, công tác vận động, thu hút và sử dụng ODA của Việt Nam đã thu được nhiều kết quả tích cực, thể hiện ở 3 chỉ tiêu chủ yếu: Vốn ODA cam kết, vốn ODA ký kết và vốn ODA giải ngân”, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh đã khẳng định như vậy khi trao đổi với phóng viên Báo Đầu tư điện tử - baodautu.vn về những thành tựu mà Việt Nam đạt được sau hành trình 20 năm hợp tác phát triển với các nhà tài trợ.
Số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, 20 năm qua, các nhà tài trợ đã cam kết dành cho Việt Nam trên 78,195 tỷ USD vốn ODA, trong đó đã ký kết hiệp định chính thức 58,463 tỷ USD.
“Có thể nói, trong thời gian qua, ODA có mặt ở hầu hết các lĩnh vực cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội. Các công trình sử dụng vốn ODA đã góp phần tăng trưởng kinh tế và cải thiện đời sống của nhân dân”, Bộ trưởng Vinh nói và khẳng định, Việt Nam đã sử dụng một cách hiệu quả từng đồng vốn ODA, như đã cam kết với các nhà tài trợ.
Các nhà tài trợ quốc tế cũng đánh giá cao việc Việt Nam đã sử dụng vốn ODA đúng mục đích và mang lại hiệu quả cao. Bà Victoria Kwakwa, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam đã nhiều lần khẳng định điều này tại các kỳ Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam (Hội nghị CG), với tư cách đồng chủ trì với Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
“Nhật Bản đã hỗ trợ Việt Nam chủ yếu trong việc phát triển các công trình kết cấu hạ tầng quan trọng, như đường giao thông, cầu, cảng... Tôi thực sự hài lòng vì vốn ODA đã được sử dụng hiệu quả và sự hỗ trợ của chúng tôi đã góp phần tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng kinh tế của Việt Nam”, ngài Hiroshi Fukada, Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam nhấn mạnh.
Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng, bên cạnh số vốn cam kết và ký kết tăng dần qua từng năm, thì giải ngân vốn ODA vẫn chưa đạt được những đột phá để góp phần phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam, dù đã được cải thiện nhiều.
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hạn chế và yếu kém mang tính tổng hợp nhất trong quản lý và sử dụng ODA thời gian qua ở Việt Nam là năng lực hấp thụ nguồn vốn ODA quốc gia, cũng như ở cấp ngành và địa phương chưa đáp ứng được yêu cầu. Minh chứng là tỷ lệ giải ngân vốn ODA mới bằng khoảng 63% vốn ODA ký kết.
“Nhiều chương trình, dự án sử dụng vốn ODA đã chậm tiến độ, dẫn đến việc một số dự án cắt giảm, hủy một số hạng mục và hoạt động, hoặc phải tái cấu trúc toàn bộ dự án. Hậu quả là, giải ngân vốn ODA của cả nước đạt thấp so với vốn ODA đã ký kết, ảnh hưởng xấu tới hiệu quả sử dụng nguồn vốn này”, ông Hoàng Viết Khang, Vụ trưởng Vụ Kinh tế đối ngoại (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) nói và cho biết, riêng thời kỳ 2006 - 2010, khoảng 7 tỷ USD vốn ODA đã ký kết, nhưng chưa giải ngân, trong đó có nhiều chương trình, dự án được hưởng các điều kiện tài chính ưu đãi cao phải chuyển tiếp sang thời kỳ 2011 - 2015.
“Số vốn tồn đọng này cùng với các khoản vốn ODA ký kết mới trong thời kỳ 2011 - 2015 sẽ tạo áp lực lớn đối với nhiệm vụ giải ngân nguồn vốn này trong 5 năm 2011 - 2015”, ông Khang nói.
Chính vì vậy, một trong những áp lực hiện nay của Việt Nam là phải đẩy nhanh giải ngân vốn ODA, nhất là trong bối cảnh nguồn lực đầu tư trong nước có hạn. Và không chỉ là giải ngân, mà Việt Nam phải sử dụng minh bạch và hiệu quả những đồng vốn này.
“Nếu Việt Nam chứng tỏ mình có thể sử dụng ODA hiệu quả, đúng mục đích, giải ngân đúng tiến độ, thì các nhà tài trợ quốc tế sẽ tin tưởng và tiếp tục hỗ trợ. Ngược lại, nếu thấy Việt Nam còn nghèo mà sử dụng lãng phí, tham ô vốn ODA, thì sẽ chẳng ai đầu tư”, Bộ trưởng Vinh nhấn mạnh.

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN ODA Ở VIỆT NAM

Đánh giá chung về việc thu hút và sử dụng vốn ODA ở VN
Phần lớn các Hiệp định vay ưu đãi đều có thời hạn vay dài (trên 30 năm) có thời hạn ân hạn (thời gian ân hạn dài nhất có thể lên tới 12 năm), mức lãi suất ưu đãi (dưới 1%/năm), tập trung vào các nhà tài trợ lớn như Nhật Bản, ADB, ƯB. Còn lại các khoản vay có thời hạn vay và thời gian ân hạn ngắn mức lãi suất bình quân từ 1,5-3,5%/năm. Điều đó có nghĩa là nghĩa vụ trả nợ gốc của các khoản vay này đã và đến hạn nhanh với khối lượng ngày càng tăng
Nhìn vào biểu đồ trên ta có thể rút ra một số nhận xét sau:
Tổng số vốn cam kết, ký kết và giải ngân theo các Hiệp định vay nợ, viện trợ liên tục tăng lên hàng năm, thể hiện sự ủng hộ của các nhà tài trợ đối với những nỗ lực cải cách của Việt Nam cũng như những kỳ vọng của họ về những bước cải cách tiếp theo, công tác tiếp nhận và quản lý các chương trình dự án của Việt Nam ngày càng được nâng cao.
Điều kiện cung cấp ODA ngày càng đa dạng. Có thể nói mỗi nhà tài trợ khi cam kết cung cấp ODA cho Việt Nam đều đưa ra các điều kiện tài trợ riêng của mình theo tình hình cụ thể các chương trình, dự án do phía Việt Nam đề xuất và chính sách ưu tiên của các nhà tài trợ.

Kết quả của quá trình huy động vốn thể hiện tại biểu đồ dưới đây:

Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, 9 tháng đầu năm, tổng giá trị giải ngân các dự án (D.A) ODA đạt 4,105 tỷ USD, tăng 10% so với cùng kỳ 2013.
Tình hình giải ngân vốn ODA
Phân theo phương thức hoàn trả
- Viện trợ không hoàn lại
Bên nước ngoài cung cấp viện trợ (mà bên nhận không phải hoàn lại) để bên nhận thực hiện các chương trình, dự án theo sự thoả thuận trước giữa các bên.
Viện trợ không hoàn lại thường được thực hiện dưới các dạng:
• Hỗ trợ kỹ thuật.
• Viện trợ nhân đạo bằng hiện vật.

- Viện trợ có hoàn lại
Nhà tài trợ cho nước cần vốn vay một khoản tiền (tuỳ theo một quy mô và mục đích đầu tư) với mức lãi suất ưu đãi và thời gian trả nợ thích hợp.
Những điều kiện ưu đãi thường là:
• Lãi suất thấp (tuỳ thuộc vào mục tiêu vay và nước vay).
• Thời hạn vay nợ dài (từ 20 - 30 năm)
• Có thời gian ân hạn (từ 10 - 12 năm)

- ODA cho vay hỗn hợp
Là các khoản ODA kết hợp một phần ODA không hoàn lại và một phần tín dụng thương mại theo các điều kiện của tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển.
Phân loại theo nguồn cung cấp
- ODA song phương
Là các khoản viện trợ trực tiếp từ nước này đến nước kia thông qua hiệp định được ký
kết giữa hai Chính phủ.

- ODA đa phương
Là viện trợ chính thức của một tổ chức quốc tế (IMF, WB1
...) hay tổ chức khu vực
(ADB, EU,...) hoặc của một Chính phủ của một nước dành cho Chính phủ của một
nước nào đó, nhưng có thể được thực hiện thông qua các tổ chức đa phương như UNDP
(Chương trình phát triển Liên hiệp quốc), UNICEF (quĩ nhi đồng Liên Hiệp quốc)... có
thể không.
Các tổ chức tài chính quốc tế cung cấp ODA chủ yếu:
• Ngân hàng thế giới (WB).
• Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF).
• Ngân hàng phát triển Châu á (ADB)
Phân loại theo mục tiêu sử dụng
Thực hiện tốt công tác quy hoạch nhằm định hướng thu hút đầu tư vào các địa bàn, lĩnh vực phù hợp với tiềm năng, lợi thế phát triển, đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững:
- Tập trung chỉ đạo hoàn thành việc xây dựng quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội toàn tỉnh, điều chỉnh bổ sung quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội các huyện, quy hoạch tổng thể các ngành, các lĩnh vực, làm cơ sở cho quy hoạch xây dựng.
- Đầu tư nguồn lực để đẩy mạnh công tác lập quy hoạch xây dựng, đặc biệt là quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, đảm bảo quy hoạch xây dựng phải đi trước một bước làm cơ sở cho việc cấp phép xây dựng và định hướng cho công tác đầu tư. Chú trọng quy hoạch chi tiết các trung tâm cụm xã, các xã phường, các điểm dân cư, các điểm nút giao thông quan trọng, các khu du lịch, bổ sung điều chỉnh quy hoạch chi tiết các huyện lỵ nhất là bổ sung điều chỉnh quy hoạch chi tiết hệ thống cơ sở hạ tầng cho phù hợp với xu thế mới. Kêu gọi các tổ chức tư vấn nước ngoài để quy hoạch tổng thể vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng làm cơ sở cho việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
- Cần đổi mới phương pháp, cách làm quy hoạch, quy hoạch phải phù hợp với cơ chế thị trường. Cần thu hút sự tham gia của các thành phần kinh tế và phải có sự lồng ghép giữa quy hoạch ngành và lãnh thổ. Cần sử dụng có hiệu quả năng lực của các tổ chức tư vấn hiện có trong tỉnh, ngoài ra cần tranh thủ các tổ chức tư vấn trong nước, các trường Đại học, các Bộ, ngành TW, tư vấn quốc tế để lập quy hoạch.
- Công bố công khai các quy hoạch chi tiết xây dựng sau khi phê duyệt được trên các phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan nhà nước, tại các vùng dự án để nhân dân và các nhà đầu tư biết, thực hiện và giám sát việc thực hiện xây dựng theo đúng quy hoạch.

- Tổ chức hội thảo, hội nghị với các tổ chức tài trợ, giới thiệu nhu cầu sử dụng nguồn vốn ODA của tỉnh trên mạng Internet, trên các phương tiện thông tin khác như giới thiệu trên sách, tạp chí, báo, tổ chức hội thảo để kêu gọi sự quan tâm giúp đỡ của các cơ quan Trung ương, cũng như các nhà tài trợ song phương và đa phương trên thế giới.
- Làm tốt công tác theo dõi, hướng dẫn, đánh giá việc thực hiện các dự án ODA trên địa bàn tỉnh. Tích cực thúc đẩy tiến độ xây dựng và bảo đảm hiệu quả các dự án ODA đang thực hiện. Trước mắt cần đẩy nhanh tiến độ giải ngân và bảo đảm hiệu quả các dự án đã được đầu tư để tạo điều kiện tăng mức đầu tư, hoàn thành thủ tục để triển khai các dự án do các tổ chức song phương, đa phương tài trợ. Tiến hành tổng kết công tác đối ngoại của tỉnh để rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc thu hút tất cả các nguồn vốn ODA, NGO, FDI.
- Tăng cường huy động mọi nguồn lực trong nhân dân, đồng thời xây dựng cơ chế vận động thu hút các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, tổ chức hội thảo vận động xúc tiến đầu tư trên cơ sở các tiềm năng, thế mạnh sẵn có của địa phương và những lĩnh vực cần ưu tiên cho đầu tư phát triển trong giai đoạn 2006-2010 và những năm tiếp theo.
- Huy động mọi nguồn lực để tăng cường công tác vận động các nhà tài trợ.

- Thực hiện tốt các quy định của Luật Đất đai và các văn bản Nghị định, Thông tư hướng dẫn về đất đai. Đẩy nhanh việc quy hoạch sử dụng đất toàn tỉnh, các huyện và các xã nhằm phục vụ tốt hơn, kịp thời cho phát triển kinh tế xã hội của các vùng trong tỉnh và thu hút các dự án đầu tư.
- Tập trung chỉ đạo mạnh mẽ, quyết liệt công tác đền bù, giải phóng mặt bằng, xây dựng các khu tái định cư và cần coi đây là trách nhiệm của các cấp, các ngành nhằm bảo đảm khởi công và hoàn thành chương trình, dự án theo đúng tiến độ đã được thoả thuận với nhà tài trợ. Cần có sự phối hợp một cách tích cực đồng bộ với các nhà đầu tư để giải quyết dứt điểm theo từng dự án. Thực hiện tốt các văn bản luật và các văn bản hướng dẫn dưới luật, đặc biệt, tập trung làm tốt công tác quy hoạch, chuyển mục đích sử dụng đất, khắc phục cơ bản tình trạng dự án chờ đất, giải quyết nhanh chóng các thủ tục về giao đất, cho thuê đất, các dịch vụ về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Xây dựng khung giá đất phù hợp với thị trường và thực trạng nền kinh tế của tỉnh, coi đây là một trong những yếu tố tạo thế cạnh tranh về thu hút đầu tư. Cần gắn trách nhiệm việc gây ách tắc, chậm tiến độ đầu tư xây dựng vì lý do giải phóng mặt bằng với chính quyền cấp huyện, thành phố, cấp cơ sở. Cần phải quyết liệt hơn, nỗ lực mạnh mẽ hơn, dứt điểm hơn trong công tác giải phóng mặt bằng và coi đó là những nỗ lực, là những tiêu chí để đánh giá năng lực lãnh đạo của các cấp, các ngành trong cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh.

- Đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác kinh tế đối ngoại có trình độ chuyên môn về kinh tế và quản lý giỏi, có trình độ về ngoại ngữ, tin học, có đầy đủ bản lĩnh và năng lực để sẵn sàng hợp tác và làm việc trong các chương trình, dự án ODA.
- Các ngành, các cấp phải kiện toàn và tăng cường năng lực cán bộ cũng như năng lực quản lý điều hành của các Ban Quản lý dự án ODA và bảo đảm đủ cán bộ làm việc cho các đơn vị này. Thực hiện phân cấp, phân quyền một cách minh bạch giữa chủ đầu tư và các BQL dự án.
- Thực hiện chính sách thu hút cán bộ có trình độ chuyên môn, có kỹ năng làm công tác kinh tế đối ngoại, cần có kế hoạch tuyển chọn, đào tạo nguồn cán bộ có nghiệp vụ kinh tế đối ngoại, có năng lực, đáp ứng các yêu cầu chuyên môn về quản lý, điều hành và bố trí phù hợp để thực hiện tốt các chương trình, dự án ODA.
- Kết hợp đào tạo mới, đào tạo lại, tranh thủ các nguồn tài trợ, học bổng, khuyến khích du học tự túc để tăng nhanh lực lượng chuyên gia khoa học công nghệ, nhà kinh doanh, quản lý giỏi, đội ngũ công chức có năng lực. Có chính sách ưu đãi đặc biệt và ngân sách dành một khoản kinh phí hợp lý, thoả đáng để thu hút nguồn chất xám, nhân tài từ bên ngoài vào làm việc tại tỉnh, bổ sung nguồn cho các dự án ODA.
- Coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch và bố trí sử dụng cán bộ nhất là đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý. Khuyến khích phát hiện, bồi dưỡng tài năng trẻ trong hàng ngũ cán bộ công chức quản lý nhà nước và quản lý kỹ thuật.

- Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm và mối quan hệ giữa các ngành, đơn vị, các cấp; giữa tỉnh và các huyện, thành phố; giữa huyện và xã để từ đó nâng cao trách nhiệm của các ngành các cấp trong xử lý công việc, để công việc được giải quyết nhanh chóng, thuận tiện. Bổ sung các quy định, quy chế hoạt động của các cơ quan nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động.
- Kiện toàn cơ cấu tổ chức bộ máy ở mỗi ngành, mỗi cấp, từng cơ quan trong bộ máy hành chính sao cho hợp lý; sáp nhập, lồng ghép các tổ chức cơ quan tránh các bộ phận trùng lắp chức năng, nhiệm vụ, bỏ những khâu trung gian gây phiền hà, làm chậm công việc. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các chức danh theo tiêu chuẩn, biên chế cán bộ công chức. Triển khai thực hiện nghiêm túc Pháp lệnh về cán bộ công chức và các quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở và Pháp lệnh phòng chống tham nhũng.
- Các ngành các cấp cần tập trung rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định không phù hợp làm phiền hà đến người dân và doanh nghiệp theo hướng đảm bảo thủ tục đầy đủ, đơn giản, giải quyết công việc nhanh chóng.
- Nâng cao hiệu quả cơ chế giao dịch một cửa, tập trung vào các lĩnh vực như: giới thiệu địa điểm đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thuê đất, đăng ký kinh doanh, quản lý thuế, thẩm định dự án đầu tư, cấp phép đầu tư cho các dự án. Cải tiến phương thức làm việc, thực hiện công khai, minh bạch, đổi mới lề lối, tác phong làm việc trong các cơ quan công quyền, tránh tình trạng nhũng nhiễu, cửa quyền trong cán bộ công chức và các cơ quan nhà nước.
- Tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về môi trường đầu tư thông thoáng, đơn giản hóa các thủ tục trong đầu tư, nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư, cải cách các thủ tục hành chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi thu hút các nhà đầu tư cũng như các dự án ODA.

- Trong công tác quản lý dự án trên địa bàn tỉnh cần thiết xây dựng hệ thống MIS để thực hiện việc trao đổi thông tin 2 chiều giữa các BQL dự án và Sở Kế hoạch và Đầu tư.
- Xây dựng trang Web và đưa các danh mục dự án kêu gọi vốn ODA lên trang Web của tỉnh. Tiếp xúc và có quan hệ tốt với các nhà tài trợ song phương, đa phương và các Bộ, ngành Trung ương để vận động nguồn ODA.

- Cập nhật các thông tin, số liệu cơ bản của tỉnh để phục vụ cho công tác xúc tiến ODA.
- Hàng năm Sở KH&ĐT và các Sở, ngành chuyên môn lập đề cương sơ bộ, đề cương chi tiết cho một số dự án tài trợ từ nguồn ODA thích hợp và chuẩn bị cho Hội nghị tư vấn các nhà tài trợ tổ chức hàng năm.
- Đồng thời cần tăng cường quan hệ với các tổ chức song phương, đa phương và tiếp xúc, làm việc với các Bộ, ngành Trung ương để tiếp nhận thông tin, được hỗ trợ, giúp đỡ kêu gọi vốn ODA

- Việc nâng cao năng lực quản lý điều hành và tổ chức thực hiện của các ngành, các cấp, các đơn vị là khâu có tính chất quyết định đến việc thực hiện tốt việc thu hút và sử dụng vốn ODA. Đề cao chế độ trách nhiệm của các cấp, các ngành, của đội ngũ cán bộ trong chỉ đạo điều hành và thực hiện theo chức năng nhiệm vụ được phân công. Cần đánh giá đúng năng lực để bố trí đúng cán bộ vào các khâu công việc, kiên quyết thay thế những cán bộ không đủ phẩm chất, kém năng lực, không phù hợp yêu cầu đổi mới đồng thời thực hiện tốt các quy định của TW về tiêu chuẩn hoá cán bộ trong các lĩnh vực.
- Triển khai đề án vận động, thu hút và sử dụng có hiệu quả vốn ODA đã được duyệt nhằm đảm bảo tính hợp lý, thực thi và bền vững trong quá trình phát triển. Trong quá trình thực hiện phải thường xuyên cập nhật, rà soát, bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp.
- Tăng cường công tác thông tin, báo cáo, công tác kiểm tra thực hiện chương trình, dự án, đảm bảo cho lãnh đạo các cấp xử lý kịp thời thông tin trong quá trình chỉ đạo, điều hành nhằm phát huy nhanh những nhân tố tích cực và hạn chế kịp thời những tổn thất gây ra.
- Cần tăng cường sự chỉ đạo, kiểm tra thường xuyên của UBND tỉnh trong việc tổ chức thực hiện đề án. Thực hiện tốt việc công khai hoá các nội dung đề án sau khi đã được phê duyệt.

- Mức cam kết tài trợ ODA năm 2011 cho VN là 7,88 tỷ USD
- Cam kết ODA năm 2012 đạt gần 7,4 tỷ USD
Ngân hàng TG (WB), NH phát triển Châu Á (ADB) và Nhật Bản vẫn là những nhà tài trợ lớn nhất của VN với những con số cam kết khá ấn tượng. Cụ thể, trong năm tài khoá 2012, WB cam kết tài trợ cho VN 2 tỷ USD, ADB là 1,4 tỷ USA và Nhật Bản là 1,9 ỷ USD
- 8 tháng đầu năm 2013 ODA ký kết đạt gần 4,6 tỷ USD, tăng 29%, giải ngân đạt 2,74 tỷ USD (tăng 8,68%)
- Cũng theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tổng vốn ODA được ký kết trong 9 tháng đầu năm 2014 đạt 3,519 tỷ USD. Trong đó, một số chương trình, dự án có giá trị vốn vay ODA lớn như: Chương trình hỗ trợ quản lý kinh tế và nâng cao khả năng cạnh tranh (EMCC 2) trị giá 147,60 triệu USD do Nhật Bản tài trợ; Dự án xây dựng Nhà máy điện Thái Bình 1 và đường dây truyền tải trị giá 351,11 triệu USD do Nhật Bản tài trợ; Dự án quản lý tài sản đường bộ Việt Nam trị giá 251,7 triệu USD do WB tài trợ; Dự án xây dựng đường cao tốc Bắc - Nam đoạn Đà Nẵng - Quảng Ngãi trị giá 295,29 triệu USD do Nhật Bản tài trợ; Dự án kết nối trung tâm đồng bằng Mê kông do ADB tài trợ 410 triệu USD và Chính phủ Úc viện trợ không hoàn lại 160 triệu USD; Chương trình đổi mới sáng tạo Việt Nam - Phần Lan giai đoạn 2 trị giá 13,56 triệu USD do Phần Lan viện trợ không hoàn lại; Dự án Sáng kiến và phát triển địa phương thích ứng biến đổi khí hậu do Luxembourg viện trợ không hoàn lại trị giá 10,99 triệu USD.
Vai trò của nguồn vốn ODA đối với đầu tư phát triển của Việt Nam
Trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn
Về năng lượng
Về giao thông vận tải
Trong giáo dục và đào tạo
Về y tế
Trong phát triển đô thị và bảo vệ môi trường
Trong lĩnh vực khoa học, công nghệ
Về xây dựng thể chế
3. Vai trò
của nguồn vốn ODA

Đối với nước xuất khẩu vốn
- Viện trợ song phương tạo điều kiện cho các công ty của bên cung cấp hoạt động thuận lợi hơn tại các nước nhận viện trợ một cách gián tiếp.
- Ngoài ra, nước viện trợ còn đạt được những mục đích về chính trị, ảnh hưởng của họ về mặt kinh tế - văn hoá đối với nước nhận cũng sẽ tăng lên.
Đối với các nước tiếp nhận ODA
- Các nước đang phát triển đa phần là trong tình trạng thiếu vốn trầm trọng nên thông qua ODA song phương có thêm vốn để phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội. ODA mang lại nguồn lực cho đất nước.
Nguồn vốn ODA
được đánh giá là nguồn ngoại lực quan trọng giúp các nước ĐPT thực hiện các chiến lược phát triển KTXH của mình
- ODA là nguồn vốn bổ sung giúp cho các nước nghèo đảm bảo chi đầu tư phát triển, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước.
- ODA giúp các nước ĐPT phát triển nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường.
- ODA giúp các nước ĐPT xoá đói, giảm nghèo.
- ODA là nguồn bổ sung ngoại tệ và làm lành mạnh cán cân thanh toán quốc tế của các nước ĐPT.
- ODA được sử dụng có hiệu quả sẽ trở thành nguồn
lực bổ sung cho đầu tư tư nhân.
Vai trò
của viện trợ ODA trong môi trường quốc tế đang thay đổi
- Nhu cầu tiếp theo đối với nguồn vốn ODA dựa trên những nguyên tắc của “ An ninh cho con người”.
- Hiệu ứng hiệp lực giữa các bên tham gia khác nhau được kết nối với nguồn vốn ODA.
- Hợp tác phát triển như đầu tư cho tương lai.
Full transcript