Loading presentation...

Present Remotely

Send the link below via email or IM

Copy

Present to your audience

Start remote presentation

  • Invited audience members will follow you as you navigate and present
  • People invited to a presentation do not need a Prezi account
  • This link expires 10 minutes after you close the presentation
  • A maximum of 30 users can follow your presentation
  • Learn more about this feature in our knowledge base article

Do you really want to delete this prezi?

Neither you, nor the coeditors you shared it with will be able to recover it again.

DeleteCancel

Make your likes visible on Facebook?

Connect your Facebook account to Prezi and let your likes appear on your timeline.
You can change this under Settings & Account at any time.

No, thanks

Copy of Hệ thống ký quỹ - hoàn trả

No description
by

Bin Bin

on 10 January 2014

Comments (0)

Please log in to add your comment.

Report abuse

Transcript of Copy of Hệ thống ký quỹ - hoàn trả

HỆ THỐNG KÝ QUỸ - HOÀN TRẢ
VIII. Ưu điểm và nhược điểm
Thành viên nhóm
1
2
3
4
5
6
7
8
Hệ thống Ký quỹ - hoàn trả được xem là hiệu quả khi đảm bảo các yếu tố (mức giá ký quỹ vừa phải, chi phí thực hiện thấp), nhưng quan trọng hơn là đảm bảo tỉ lệ thu gom cao thông qua việc trả lại chất thải của người dân
Hệ thống ký gửi – hoàn trả là một trong những công cụ kinh tế có vai trò quan trọng trong việc quản lý môi trường nói chung và chất thải rắn đô thị nói riêng.

KẾT LUẬN
Nội dung
Bức tranh thế giới trong việc sử dụng công cụ đặt cọc hoàn trả như là một chính sách để bảo vệ môi trường

1. Lưu Thị Huế
2. Hoàng Thị Liên
3. Cao Cẩm Anh
Danh sách thành viên
- Ở Mỹ đã thực hiện đặt cọc bắt buộc đối với các bao bì nước giải khác và bia tại 10 bang. Tại Mỹ, hệ thống ký quỹ bắt buộc đối với các ắc quy ô tô được quy định thành luật chung của đảo Rhode và được coi là thành công.
- Ở Đan Mạch, bộ trưởng Môi trường đã ban hành một lệnh bắt buộc, người dùng phải nạp tiền đặt cọc đối với các chai bia và nước ngọt có thể tái sử dụng được cho phép bán.
- Ở Phần Lan, các hệ thống ĐCHT đối với bao bì đồ uống rất thành công với khoảng 90% số bao bì được hoàn trả lại.
- Ở Thụy Điển, việc tăng tiền đặt cọc các can bia nhôm gấp đôi, đã làm tăng tỷ lệ can được trả lại từ 70% lên hơn 80%

Là một nước có nền tảng là một nước nông nghiệp, đang trên con đường phát triển Việt Nam cũng không nằm ngoài tư thế trên. Nhà nước đang càng ngày càng khuyến khích việc áp dụng các kỹ thuật tiên tiến, các phương thức sản xuất cũng như quản lý mới vào hoạt động kinh tế. Và có thể xem KÝ QUỸ HOÀN TRẢ là một trong các sự lựa chọn hiệu quả trong quá trình phát triển bền vững của nền kinh tế quốc gia

II. Khái niệm và mục đích
1. Ký quỹ môi trường
a. Khái niệm
Ký quỹ MT là một loại công cụ kinh tế áp dụng cho các ngành kinh tế có tiềm năng gây ô nhiễm MT trầm trọng như: khai thác khoáng sản, khai thác các loại tài nguyên thiên nhiên khác, xây dựng các nhà máy tiềm ẩn mức độ ô nhiễm MT lớn.

b. Mục đích
2. Hệ thống ký quỹ hoàn trả
a. Khái niệm
Hệ thống ký quỹ - hoàn trả (deposit – refund system) là một trong những công cụ kinh tế được sử dụng để bảo vệ môi trường. Những người tiêu dùng phải trả thêm một khoản tiền khi mua các sản phẩm có nhiều khả năng gây ô nhiễm. Khi những người sử dụng hay người tiêu dùng các sản phẩm ấy, trả bao bì và các phế thải của chúng cho một trung tâm được phép tái chế hoặc để thải bỏ, thì khoản tiền ký quỹ của họ sẽ được hoàn chi.Ngược lại, số tiền trên sẽ chuyển vào quỹ MT.

b. Mục đích

Ký quỹ - hoàn trả được coi là một trong những “ứng cử viên” sáng giá cho các chính sách nhằm giúp nền kinh tế thoát khỏi chu trình sản xuất tuyến tính (khai khoáng → nguyên liệu thô → sản phẩm → phế thải) và hướng tới chu trình tuần hoàn trong đó các tài nguyên được tái chế, tái sử dụng tới mức tối đa có thể được.

*Ví dụ về quốc tế
Hệ thống ký quỹ hoàn trả áp dụng đối với vỏ thân các oto con và mini bus cửa lùa được thực hiện ở Nauy năm 1978.
Theo hệ thống này người mua xe mới phải trả một khoản tiền ký quỹ. Khi xe không còn dùng được nữa và đưa trả về địa điểm khôi phục chính thức, thì một số số tiền lớn hơn sẽ được hoàn trả.
Mục tiêu của chương trình này là giảm bớt số lượng xe bị vứt bỏ ngoài trời, và khuyến khích sử dụng lại vật liệu. Số xe được trả lại chiếm khoảng 90- 99%. Tiền thu nhập được dùng để tài trợ cho việc thu gom, vận chuyển và các phương tiện để đập vụn
*Ví dụ về khai thác khoáng sản ở Việt Nam
Các khoản tiền ký gửi với cam kết phục hồi hiện trạng môi trường sau khi thực hiện khai thác, sẽ được hoàn trả nếu thực hiện cam kết.
Luật khoáng sản (1996 ban hành năm 2005): Thông tư Liên tịch 126/1999/TTLT –BTC-BCN-BKHCNMT và Bộ tài chính, Bộ Công nghiệp, Bộ Khoa học, công nghệ và môi trường hướng dẫn thực hiện ký quỹ; Quyết định 71/2008-QĐ_TTg của Thủ tướng CP về ký quỹ cải tạo và phục hồi môi trường.


Yêu cầu các doanh nghiệp sản xuất trước khi đầu tư phải đặt cọc ngân hàng một khoản tiền nào đó (đủ lớn) để đảm bảo cho việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về công tác BVMT

Số tiền này phải lớn hơn hoặc xấp xỉ kinh phí cần thiết để xử lý hoặc kinh phí cần thiết để xử lý hoặckinh phí dùng để khắc phục ô nhiễm MT trong trường hợp không may xảy ra ô nhiễm

III. Nội dung hệ thống
IV. Những quy định của hệ thống
Theo luật BVMT năm 2005 điều 114 ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên.
Tổ chức, cá nhân khai thác TNTN phải thực hiện ký quỹ cải tạo. phục hồi môi trường theo những quy định sau đây.

Trước khi khai thác phải thực hiện việc ký quỹ tại tổ chức tín dụng trongg nước hoặc quỹ BVMT của địa phương nơi có khai thác TNTN, mức ký quỹ phụ thuộc vào quy mô khai thác, tác động xấu với môi trường, chi phí cần thiết để cải tạo. phục hồi môi trương sau khai thác.

Tổ chức cá nhân ký quỹ được hưởng lãi suất phát sinh,
được nhận lại số tiền ký quỹ sau khi hoàn thành cải tạo,
phục hồi môi trường.

Tổ chức, cá nhân không thực hiện nghĩa vụ cải tạo, phục hồi môi trường
hoặc thực hiện không đạt yêu cầu thì toàn bộ hoặc 1 phần số tiền ký quỹ
được sử dụng để cải tạo, phục hồi môi trường nơi tổ chức, cá nhân đó khai
thác.

V. Phạm vi áp dụng
Các sản phẩm mà khi sử dụng có khả năng gây ô nhiễm môi trường nhưng có thể xử lý tái chế hoặc tái sử dụng: nhà máy sản xuất nhựa, giấy

Các sản phẩm chứa chất độc, gây khó khăn đặc biệt cho việc xử lý; nếu tiêu huỷ không đúng cách sẽ gây nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức khoẻ con người

Các sản phẩm làm tăng lượng chất thải, cần các bãi thải có quy mô lớn và tốn nhiều chi phí tiêu huỷ

VII. Đánh giá hiệu quả của hệ thống
1. Ưu điểm
2. Nhược điểm
Trên thực tế, công cụ Ký quỹ hoàn trả tỏ ra hiệu quả hơn là các hệ thống tự nguyện hoàn trả trong việc thu gom chất thải nhờ vào những kích thích kinh tế

Làm giảm đáng kể lượng chất thải cần xử lý; ngăn chặn sự vứt bỏ bất hợp lý và trái pháp luật các chất thải gây ô nhiễm môi trường làm ảnh hưởng đến đời sống của sinh vật, con người và mỹ quan, giảm thiểu lượng chất thải phát tán bừa bãi vào môi trường mà không thể thu gom lại được toàn bộ.

Thúc đẩy quá trình tái sinh, tái sử dụng chất thải vào mục đích có lợi khác, hoặc quá trình tái chế các dòng phế liệu, từ đó làm giảm tốc độ và số lượng khái thác tài nguyên đồng thời giảm chi phí nguyên vật liệu cho các đơn vị sản xuất.

Một cách lý thuyết, những hệ thống này là có hiệu quả vì chúng không đòi hỏi giám sát và sự can thiệp của các cơ quan nhà nước. Phần lớn việc quản lý thuộc về khu vực tư nhân, tạo ra động lực đôi bên khuyến khích cho các bên thứ 3 tham gia vào các dịch vụ thu gom, tái chế

Khuyến khích tái sử dụng , tái chế các chất phế thải an toàn đối với môi trường. Công cụ này có tính linh hoạt với một số công cụ khác số. Có thể sử dụng ngay địa điểm bán hàng làm địa điểm thu gom và vận chuyển các chất phế thải đến địa điểm quy định

Tạo công ăn việc làm cho những người thu gom và tái chế chất thải.

Công cụ này chỉ phát huy tác dụng khi công tác tổ chức việc tái chế, tái sử dụng rác thải sử dụng tốt

Thực hiện còn hạn chế do khai thác không phép hoặc không chịu thực hiện nghĩa vụ ký quỹ

Người sử dụng phải trả tiền do sử dụng các hệ thống dịch vụ công cộng xử lý và cải thiện chất lượng môi trường như: Phí vệ sinh thành phố, phí thu gom và xử lý rác thải, phí sử dụng đường và bãi đỗ xe.

Mức đặt cọc thấp sẽ không tạo ra động cơ kinh tế đủ mạnh cho việc thu gom và tái chế phế thải

XI. Khó khăn giải pháp
1. Giá ký quỹ cao, thấp.

Cần đưa ra giá ký quỹ hợp lý dựa trên khả năng và mức sẵn lòng chi trả của xã hội, phu hợp với thu nhập của người tiêu dùng, đảm bảo sức mua hàng hóa không giảm và đảm bảo thu gom hiệu quả các sản phẩm sau sử dụng.

2. Ý thức, nhận thức.
Cần làm cho doanh nghiệp và người dân thấy được sự cần thiết và lợi ích của công cụ KQHT trong việc BVMT để tự nguyện tham gia và thực thi chính sách

3. Khả năng tổ chức hệ thống còn nhiều bất cập
Cần phải có các cơ cấu tổ chức mới để thu gom và điều hành việc tái chế các phế phẩm, chất thải, cũng như để quản lý các công việc tài chính, sự thống nhất và thực hiện đồng bộ từ nhà sản xuất, nhà phân phối, đại lý bán lẻ và người tiêu dùng. yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền cấp quốc gia và địa phương thiết lập nên hệ thống này.

4. Phải trả lại tiền cho các chất ô nhiễm được trả , rất có khả năng tạo ra sự khuyến khích đối với việc làm hàng giả nếu như không có các biện pháp chế tài, kiểm soát chặt chẽ. Bên cạnh đó, vấn đề về công nghệ tái chế cũng ảnh hưởng không nhỏ tới sự hoạt động và thành công của hệ thống.
Vì vậy cần có các chính sách hỗ trợ đảm bảo hệ thống hoạt động hiệu quả, chặt chẽ, liên tục tránh ngưng đọng
Xác định mức sẵn lòng chi trả của các hộ gia đình về dịch vụ thu gom quản lý và xử lý CTRSH ở địa bàn Tp. Hồ Chí Minh trong tháng 12 năm 2012

* Địa điểm nghiên cứu
- Đất nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nên đã có nhiều thay đổi tích cực về mọi mặt. Riêng về thành phố Hồ Chí Minh đến nay đã đạt được 100% chất thải được thu gom và xử lý theo quy định. Việc nâng cao chất lượng dịch vụ môi trường là điều cần thiết nhằm đảm bảo hơn chất lượng cuộc sống của ngưới dân, cải tạo và làm đẹp môi trường.



Các phương pháp
1. Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu phục vụ cho việc nghiên cứu được thu thập từ công ty Quản lý Môi trường Đô thị Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc Sở Tài Nguyên và Môi trường tp. Hồ Chí Minh và căn cứ trên tình hình kinh tế - xã hội, vị trí địa lý và thời gian nghiên cứu.

Phương pháp phân tích
- Còn gọi là phương pháp tạo dựng thị trường (CVM – Contingent Valuation Method): Cá nhân được phỏng vấn trong mẫu điều tra được coi là tác nhân tham gia vào thị trường.
- Kỹ thuật được sử dụng trong nghiên cứu này là kỹ thuật thanh toán (Payment card).
Trong quá trình điều tra cầu của các hộ gia đình về thu gom, quản lý, xử lý CTRSH trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh, phương pháp này được sử dụng là chủ yếu.
Xác định mức sẵn lòng chi trả để thu gom và xử lý rác thải tại thành phố Hồ Chí Minh
Con người cũng có nhu cầu về hàng hóa môi trường hay nói chính xác hơn là hàng hóa chất lượng môi trường như hàng hóa thị trường. Khi có nhu cầu thì họ sẵn sàng chi trả cho hàng hóa đó và ngược lại.
Tại Tp. Hồ Chí Minh, người dân nhận thức được lượng rác thải sinh hoạt ngày càng nhiều lên theo mức sống của con người, thực trạng về rác thải chưa được thu gom ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân. Người dân ở đây muốn môi trường được cải thiện, họ sẵn sàng chi trả một khoảng tiền để môi trường được trong lành.


Kết quả nghiên cứu
- Giảm được chi phí nhân công thu gom.
- Giảm số chuyến vận chuyển sẽ giảm được chi phí vật tư.
- Giảm thiểu được tối đa diện tích đất dùng để xây dựng các bãi chôn lấp.
- Giảm bớt được quy trình xử lý và chôn lấp rác thải.


- Quy trình xử lý rác được rút gọn.
- Lượng chất thải rắn giảm đi đáng kể.
- Giảm thiểu việc khai thác tài nguyên thiên nhiên thông qua việc tái chế, tái sử dụng.
- Giảm thiểu áp lực rác thải lên môi trường và giảm thiểu áp lực ô nhiễm môi trường lên đời sống người dân.

Để phương pháp này được áp dụng rộng rãi và góp phần thúc đẩy việc giảm thiểu lượng chất thải rắn sinh hoạt gây ô nhiễm môi trường làm ản hưởng đến đời sống của người dân cần phải có các biện pháp hỗ trợ chính sách, tuyên truyền, giáo dục để người dân hiểu rõ về tác hại của chất thải rắn sinh hoạt
Ở nước ta, tuy công cụ này chưa được áp dụng phổ biến, song từ bài học của các quốc gia khác trên thế giới kết hợp cùng công tác quản lý, kết hợp với các công cụ kinh tế khác cũng đã dần đem lại những tác động tích cực hơn với môi trường.

3. Công thức tính
Cơ chế của hệ thống là người gây ô nhiễm ( những người không hoàn trả sản phẩm có khả năng tái chế ) phải trả 1 lê phí ( deposit ) trong khi đó nếu những người có sự hoàn trả ( refund ) lại những sản phẩm có khả năng tái chế sau khi họ đã thỏa mãn mục đích sử dụng thì họ nhận được 1 khoảng tiền cho sư hoàn trả đó .
Số tiền ký thác và hoàn lại của 1 sản phẩm tái chế có thể không bằng nhau.

Ta có công thức như sau:
P = C + T


Trong đó: P là giá thành sản phẩm
C là chi phí sản xuất
T là giá trị ký gửi
Người tiêu dùng sẽ nhận lại được số tiền T nếu như họ hoàn trả sản phẩm có thể tái chế



* Khi El =0 (xảy ra khi % QR=0): điều này có nghĩa là người tiêu dùng sẽ không đem trả lại chất thải cho dù tỷ lệ đặt cọc-hoàn trả là bao nhiêu. Đây là trường hợp không mong muốn của nhà quản lý, vì như vậy hệ thống KQHC thất bại hoàn toàn (không thực hiện được mục tiêu giải quyết vấn đề môi trường do tỷ lệ thu gom không đạt)
* Khi El > 0: nghĩa là có sự trả lại chất thải từ phía người tiêu dùng (QR ≠ 0). Khi đó có hai trường hợp có thể xảy ra:
- 0 < El < 1 (khi % QR < %DR): Điều này có nghĩa là mức độ gia tăng tỷ lệ trả lại sản phẩm sau khi sử dụng so với gia tăng tỷ lệ hoàn trả/đặt cọc chưa tương ứng. Trong trường hợp này, việc sử dụng công cụ ĐCHT để kích thích tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt có thể tái chế sau sử dụng gặp nhiều trở ngại.
- El ≥ 1 (khi % QR ≥ % DR):Điều này có nghĩa là mức độ gia tăng tỷ lệ trả lại sản phẩm sau sử dụng nhanh hơn so với gia tăng tỷ lệ hoàn trả / đặt cọc. Các cơ quan quản lý thường mong muốn và cố gắng đạt được trạng thái co giãn này, khi đó việc áp dụng công cụ ĐCHT cho thấy là ảnh hưởng tốt lên tỷ lệ thu gom chất thải có khả năng tái chế, là cơ sở cho việc ra quyết định thực thi công cụ ĐCHT.

Để có thể thấy được việc áp dụng công cụ ký quỹ hoàn chi có hiệu quả đối với kinh tế - xã hội – môi trường ra sao ta dựa vào mức sẵn lòng chi trả cho một sản phẩm và đường cầu về xã hội của sản phẩm.

Đường cầu của hộ nông dân về dịch vụ môi trường được mô tả là “đường sẵn lòng chi trả”. Trong quá trình điều tra cầu của các hộ gia đình về thu gom, quản lý, xử lý CTRSH trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh, phương pháp này được sử dụng là chủ yếu. Như đã ví dụ ở trên mức sẵn lòng chi trả thấp nhất là 0 đồng và mức cao nhất là trên 20.000 đồng/người/tháng.
Thực trạng CTRSH ở TP Hồ Chí Minh là rất lớn,hơn 98,000 tấn/ngày đêm trong đó hơn 85,000 tấn là rác thải có thể tái chế được. Việc thu gom, xử lý, quản lý rác thải sinh hoạt không triệt để là ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường sống của người dân và cảnh quan của khu vực.Do đó nếu áp dụng thành công phương pháp này có thể thu gom được hơn 90,000 tấn rác thải có thể tái chế được để xử lý ngay tại nguồn, đưa vào các quy trình xử lý, phân loại và tái chế.
Full transcript