Loading presentation...

Present Remotely

Send the link below via email or IM

Copy

Present to your audience

Start remote presentation

  • Invited audience members will follow you as you navigate and present
  • People invited to a presentation do not need a Prezi account
  • This link expires 10 minutes after you close the presentation
  • A maximum of 30 users can follow your presentation
  • Learn more about this feature in our knowledge base article

Do you really want to delete this prezi?

Neither you, nor the coeditors you shared it with will be able to recover it again.

DeleteCancel

Make your likes visible on Facebook?

Connect your Facebook account to Prezi and let your likes appear on your timeline.
You can change this under Settings & Account at any time.

No, thanks

Tăng trưởng Kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000 - 2012

No description
by

Jen Nguyễn

on 13 November 2013

Comments (0)

Please log in to add your comment.

Report abuse

Transcript of Tăng trưởng Kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000 - 2012

Tăng trưởng Kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000 - 2012
Thanks for watching !
Nguyễn Hương Trang
Nguyễn Trường Thiện
Trần Xuân Vinh
designed by Péter Puklus for Prezi
Giới thiệu
Việt Nam được xem như một cơ hội thị trường to lớn khi quốc gia có sự chuyển mình mạnh mẽ về kinh tế và phát triển. Công cuộc Đổi Mới toàn diện bao gồm những cải cách kinh tế quan trọng được khởi xướng vào năm 1986 đã giúp Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó sử dụng cả chỉ thị và kế hoạch hóa chỉ dẫn.

Sự chuyển dịch của Việt Nam từ kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường được rút ra từ các kinh nghiệm tư bản hóa của các quốc gia khác bằng cách tìm kiếm để tạo ra một nền tảng đầu tư rộng lớn. Các thuận lợi bao gồm sự ổn định mạnh về chính trị, nền giáo dục tiêu chuẩn cao và chi phí lao động sản xuất tương đối thấp (chi phí lao động trung bình thấp hơn khoảng 35% so với ở khu công nghiệp ven biển Trung Quốc.)

Việt Nam được đánh giá là thị trường mới nổi hấp dẫn nhất về ngành sản xuất theo báo cáo PricewaterhouseCoopers 2007 EM20 Index20 và là một trong mười quốc gia hàng đầu về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong chương trình Khảo sát Triển vọng Đầu Tư Quốc tế mới nhất của Liên Hiệp Quốc. Sự kiện Việt Nam gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào đầu năm 2007 đã mở đường cho sự tự do hóa thị trường lớn hơn và làm dấy lên làn sóng đầu tư nước ngoài.

Tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào thị trường nội địa Việt Nam trong năm 2011 dự đoán khoảng 20 tỷ USD, do điều kiện nội địa và quốc tế ưu đãi, bao gồm tổng số vốn thực tiễn là 11-11,5 tỷ USD (trong đó đối tác nước ngoài chiếm từ 8-8,5 tỷ USD)

GDP thực tế của Việt Nam tăng nhanh hơn các quốc gia khác, với mức tăng trưởng trung bình là 7.32% từ năm 1990 đến hết năm 2009. Việt Nam được xếp vào một trong 20 quốc gia có nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất khắp toàn cầu trong năm 2009 với mức tăng trưởng GDP 5.3% và Ngân hàng Thế giới báo cáo mức tăng trưởng GDP đạt 6.9% trong quý 4 năm 2009. Trong năm 2010, các kết quả ở quý 3 cho thấy mức tăng trưởng GDP trong năm 2010 cho đến nay là 6.52% với tổng GDP là 104,6 tỷ USD, tương đương với GDP danh nghĩa trên bình quân đầu người là 1.218 USD.

Theo như dự đoán của Golden Sachs vào tháng 12 năm 2005, nền kinh tế Việt Nam sẽ vươn lên hàng thứ 17 trên thế giới về tiềm lực kinh tế với GDP danh nghĩa đạt 436 tỷ USD và GDP danh nghĩa tính trên đầu người là 4.357 USD vào năm 2025. Theo như dự đoán của PricewaterhouseCoopers năm 2008, Việt Nam có thể sẽ là nền kinh tế mới nổi tăng trưởng nhanh nhất thế giới năm 2025, với mức tăng trưởng tiềm năng gần 10% / năm (tính theo giá trị đồng đô la)có thể sẽ đẩy kinh tế Việt Nam tương đương 70% nền kinh tế Anh vào năm 2050.

Chính phủ đã tìm cách tăng cường tính minh bạch, quyền sở hữu tài sản và bảo vệ các nhà đầu tư thông qua Luật Đầu tư và Luật Doanh Nghiệp. Phát triển các dịch vụ tài chính bao gồm việc chuyển sang các quy định về vốn Basel I.

Tương xứng với sức mạnh về kinh tế, người dân Việt Nam hiện đang có mức thu nhập sau thuế cao hơn và có một ước muốn mạnh mẽ được sử dụng hàng hóa chất lượng cao và trải nghiệm các cơ hội giải trí sang trọng. Tiền lương danh nghĩa đã tăng 40% từ năm 2005 và dự đoán là sẽ tăng gấp đôi vào năm 2013.

- Theo Asian Coast Development LTD, 2010 -

Tóm tắt
- Trong mười ba năm 2000-2012, hàng năm nền kinh tế nước ta đều đạt tốc độ tăng trưởng tương đối khá. Tính ra, bình quân mỗi năm tổng sản phẩm trong nước tăng 6,96%. So với giai đoạn 1991-2000, quy mô nền kinh tế đã tăng lên đáng kể cả về mức của lượng tuyệt đối của 1%, cũng như tốc độ tăng trưởng bình quân mỗi năm vẫn đạt gần bằng tốc độ tăng 7,56%/năm của Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế-xã hội 1991-2000, đây là một thành tựu rất quan trọng trong thời kỳ suy thoái.

- Phát triển nhanh các ngành công nghiệp có khả năng phát huy lợi thế cạnh tranh. Phát triển ngành xây dựng đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. Nhịp độ tăng trưởng giá trị gia tăng khu vực công nghiệp và xây dựng bình quân mỗi năm tăng 10-10,5%.

- Nếu tính bằng đô la Mỹ theo tỷ giá hối đoái thực tế bình quân hàng năm thì tổng sản phẩm trong nước (GDP) đã tăng từ gần 31,2 tỷ USD năm 2000 lên trên 141,7 tỷ USD năm 2012, tức là gấp 4,54 lần. Tổng thu nhập quốc gia (GNI) của nước ta năm 2000 mới đạt 30,2 tỷ USD với mức bình quân đầu người 390 USD, nhưng đến năm 2012 đã tăng lên 124,1 tỷ USD với mức bình quân đầu người 1400 USD.

- Kết quả cụ thể của việc tăng cường hoạt động kinh tế đối ngoại trong những năm 2000-2012 được thể hiện trước hết ở hoạt động xuất nhập khẩu. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa năm 2011 ước tính đạt gần 203,6 tỷ USD, gấp trên 6,8 lần năm 2000, trong đó xuất khẩu đạt 96,9 tỷ USD, gấp trên 6,7 lần; nhập khẩu 106,7 tỷ USD, gấp gần 6,8 lần. Trong những năm 2000-2012, bình quân mỗi năm tổng mức lưu chuyển hàng hóa ngoại thương tăng 19,7%, trong đó xuất khẩu tăng 19,6%; nhập khẩu tăng 19,9%.

- Tính chung, tổng mức lưu chuyển hàng hóa ngoại thương thực hiện trong mười ba năm 2000-2012 đạt 1098,1 tỷ USD, trung bình mười năm gấp gần 6 lần mười năm 1991-2000, trong đó xuất khẩu 502,6 tỷ USD, gấp 6,1 lần; nhập khẩu 594,4 tỷ USD, gấp trên 5,9 lần. Tỷ lệ tổng kim ngạch hàng hóa ngoại thương so với GDP không ngừng tăng lên qua các năm, từ 96,6% năm 2000 tăng lên đạt 130,8% năm 2005 và 154,5% năm 2010, phản ánh nền
kinh tế nước ta có độ mở ngày càng cao.

Thực trạng
Nguyên nhân
Bài học kinh nghiệm
GDP và GNI thời kỳ 2000-2012 tính bằng USD
- GDP nước ta tăng liên tục từ năm 2000 đến 2007, đạt mức 8,4% sau đó sụt giảm năm 2008 ở mức 6,31% và 2009 là 5,32%, năm 2010 lại tăng lên 6,78%, hai năm tiếp theo 2011 và 2012 lại tiếp tục sụt giảm và ở mức 5,89% và 5,03%. Năm 2012 có tỷ lệ tăng GDP thấp nhất trong vòng nhiều năm nhưng điều cần nhấn mạnh là sự “không bình thường” trong giai đoạn 2007 đến nay. Theo nguồn số liệu của Tổng cục Thống kê, những chỉ tiêu liên quan trực tiếp đến tăng trưởng trong thời kỳ 2007-2012 là:
+ Tỷ lệ tăng vốn đầu tư toàn xã hội/GDP luôn ở mức trên 40% (cao nhất năm 2007 đạt 46,5%), tuy nhiên, đến năm 2011-2012 giảm nhanh còn 34,6%. Trong đó, tỷ lệ đầu tư của các khu vực kinh tế nhà nước dao động quanh mức 37 - 38%, khu vực ngoài nhà nước trên 35% và khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài xoay quanh mức 26% trong khi tỷ lệ tích lũy nội bộ dưới 30%. Trong giai đoạn này, tốc độ tăng của tổng sản phẩm (GO) xoay quanh mức 11 - 13% và tốc độ tăng giá trị gia tăng (VA) dao động từ 6-8%.
+ Đóng góp của các yếu tố vốn, lao động và nhân tố năng suất tổng hợp (TFP) trong tăng trưởng GDP tương ứng là 76, 16 và 7%, so với giai đoạn trước đó đã thay đổi theo hướng xấu đi, giai đoạn 2000-2006 số liệu các yếu tố tương ứng là 51, 23 và 26%. Trong giai đoạn 2006 -2012, nước ta luôn có tỷ lệ nhập siêu, năm cao nhất là 2008 lên đến 20,1% và năm 2011 là 8%. Từ năm 2012 đến nay con số này đang giảm, theo nhận định của nhiều nhà kinh tế là "không bình thường". Tỷ lệ thu – chi ngân sách với thu đạt 27,2% - chi 36,3% tiếp tục mất cân đối hơn so với giai đoạn 2000-2005, với tỷ lệ thu - chi ngân sách tương ứng là 24,6% và 32,6%. Các tỷ lệ nợ công, nợ nước ngoài và nợ công nước ngoài, theo đánh giá của Bộ Tài chính, trong giai đoạn từ 2007 đến nay tiếp tục gia tăng nhưng vẫn ở ngưỡng an toàn.

Kết luận
Để khắc phục những hạn chế và phát triển sự tăng trưởng Kinh tế Việt Nam, trong thời gian tới, chúng ta cần có những định hướng:
Kiên trì ổn định kinh tế vĩ mô
Trước bối cảnh kinh tế thế giới diễn biến khó lường, Việt Nam đã có chủ trương đúng là tập trung cho mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, bảo đảm tăng trưởng hợp lý. Tiếp nối Nghị quyết 11/2011/NQ-CP, điều này đã được khẳng định trong các Nghị quyết gần đây của các Hội nghị Trung ương Đảng (nhất là Hội nghị Trung ương 3 (Khóa XI) về cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng), Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2012 và các Nghị quyết 01/2012/NQ-CP của Chính phủ về điều hành năm 2012, Nghị quyết 13/2012/ NQ-CP về tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường...
Theo số liệu mới nhất của Tổng cục Thống kê, tăng trưởng GDP trong 6 tháng đầu năm 2013 đạt 5,03%. Đây là mức thấp hơn so với mức 5,44% của quý IV/2012. Những tồn tại và khó khăn là tồn kho sản phẩm, nợ đọng tăng cao, khó khăn của thị trường bất động sản chưa thể giải quyết. Vấn đề nợ xấu của các ngân hàng thương mại, quá trình hoạt động kém hiệu quả của một số doanh nghiệp nhà nước (DNNN)… sẽ là những trở lực lớn của tăng trưởng và phát triển nền kinh tế năm nay. Vì vậy, các chuyên gia đều có chung dự báo, GDP năm 2013 nhiều khả năng thấp hơn năm 2012 trong khi thu ngân sách nhà nước sẽ rất khó khăn do tác động của nền kinh tế trì trệ. Năm 2013 là năm niềm tin của thị trường bị giảm sút nghiêm trọng, muốn kinh tế tăng trưởng trước hết các chính sách phải lấy lại niềm tin cho thị trường.
Tuy vậy, năm 2013 nền kinh tế nước ta đan xen cả thách thức và cơ hội. Ngoài những giải pháp ngắn hạn, cần phải có tầm nhìn với những giải pháp trung và dài hạn. Trước hết, đó là cần đổi mới mạnh mẽ việc quản lý đầu tư công, hạn chế và khắc phục cách đầu tư phục vụ nhóm lợi ích; thu hẹp tối đa lối đầu tư mang tính đầu cơ, trục lợi, theo phong trào, chạy theo các giá trị ảo; Tập trung triển khai tái cơ cấu khối DNNN, các ngân hàng thương mại và tái cơ cấu đầu tư công với quy mô và cường độ lớn, thay đổi tư duy về vai trò của DNNN bằng đổi mới cách thức quản trị loại hình DN này.

Tổng mức lưu chuyển hàng hoá thời kỳ 2000-2012
- Các số liệu thống kê cho thấy việc sử dụng vốn đầu tư đem lại hiệu quả kinh tế thấp thể hiện rõ qua sự tăng nhanh của hệ số ICOR (đo hiệu quả sử dụng vốn đầu tư), cụ thể là: ICOR tăng liên tục từ năm 2000 đến 2003 đạt mức 5,34 lần, sau đó sụt giảm liên tiếp trong hai năm 2004 và 2005 ở mức 5,21 và 4,87 rồi tăng trở lại và đạt mức xấp xỉ 8,03 lần vào năm 2009, năm 2010 giảm xuống 6,18 và lại liên tiếp tăng lên trong những năm tiếp theo ở mức: 6,9 vào năm 2011, 7,56 vào năm 2012.
- Những số liệu nêu trên chỉ ra rằng, trước năm 2007 nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu như: tốc độ phát triển kinh tế tương đối cao (khoảng 7,2%/năm); GDP bình quân đầu người tăng gấp 2 lần năm 2001 (nếu tính giá hiện hành thì khoảng 3,4 lần); thu ngân sách, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng khoảng 4 lần và quan trọng là Việt Nam đã bước đầu thành công trong hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế hiện tai đang bộc lộ nhiều hạn chế, đặc biệt khi có biến động.
Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế dựa trên thâm dụng vốn đầu tư là cơ bản. Điều này thể hiện ở chỗ sự tăng trưởng kinh tế những năm qua vẫn theo chiều rộng là chính, dựa trên khai thác nguồn lực sẵn có, nghĩa là dựa trên lợi thế tĩnh, chứa chưa dựa trên khai thác tối ưu lợi thế động. Để khai thác lợi thế tĩnh Việt Nam phải đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài và trong nước với nhiều hình thức khác nhau. Sự phụ thuộc nhiều vào vốn đầu tư để tăng trưởng dẫn đến hệ quả là muốn duy trì mức tăng trưởng cao, phải tiếp tục tăng vốn thêm nữa.
Thứ hai, bất cập trong đầu tư công ở nước ta là tập trung vào đầu tư cho kinh tế rất cao (chiếm 73% tổng vốn đầu tư của Nhà nước) trong khi đầu tư vào các lĩnh vực xã hội có liên quan trực tiếp đến sự phát triển của con người (khoa học, giáo dục, đào tạo, y tế, cứu trợ xã hội, văn hoá, thể thao…) lại rất thấp và đang có xu hướng giảm dần trong những năm gần đây. Hơn nữa, vì nhiều nguyên nhân, trong đó có tham nhũng, lãng phí làm cho đầu tư công có hiệu quả thấp.
Thứ ba, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam vẫn chưa dựa nhiều vào tri thức, khoa học - công nghệ; Năng suất lao động toàn xã hội thấp tăng chậm so với tiềm năng. Mức tiêu tốn năng lượng để tạo ra một đơn vị GDP của nước ta cao so các nước trong khu vực. Nguồn lực phân bổ không hợp lý cho các lĩnh vực…
Tóm lại, tăng trưởng kinh tế nước ta trong thời gian vừa qua chủ yếu theo chiều rộng (về số lượng) và chứa đựng những yếu tố không ổn định.

Lựa chọn mô hình tăng trưởng kinh tế và giải pháp chính sách
Các nghiên cứu trong ngoài nước đều chỉ ra rằng mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam phụ thuộc vào việc mở rộng quy mô qua thâm dụng vốn nhưng hiệu quả thấp, không dựa vào yếu tố công nghệ, trình độ tổ chức quản lý và nguồn nhân lực chất lượng cao. Mô hình tăng trưởng kinh tế mới là thay đổi về chất từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, dựa trên yếu tố năng suất tổng hợp, tiến bộ khoa học - công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao, khai thác tốt nhất tiềm năng, lợi thế nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế, giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Định hướng chính sách cho mô hình tăng trưởng kinh tế dài hạn là xác định tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hợp lý (chứ không phải đặt nặng mục tiêu tốc độ cao, năm sau cao hơn năm trước), phát triển ổn định, hiệu quả và cạnh tranh. Để nâng chất lượng tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế bền vững cần thực hiện các nhóm giải pháp sau đây:
Một là, Nhà nước cần phải đẩy mạnh sự thay đổi thể chế, loại trừ lợi ích nhóm, chống tham nhũng, minh bạch hóa thông tin… Cần nhận thức đầy đủ hơn quá trình chuyển đổi sang cơ chế thị trường, xây dựng và hoàn thiện đồng bộ các loại thị trường, áp dụng đúng đắn các biện pháp quản lý, điều hành theo cơ chế thị trường để sử dụng một cách hiệu quả vốn, tài nguyên, con người…
Hai là, cần khai thác tốt nhất các yếu tố tăng trưởng kinh tế, đó là huy động và sử dụng hiệu quả nguồn vốn, tài nguyên, kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí, tăng hàm lượng khoa học kỹ thuật, nhập khẩu và sản xuất các loại máy móc, trang thiết bị, quy trình công nghệ tiên tiến, sử dụng tốt hơn nhân tố con người bằng cách nâng cao chất lượng đào tạo bằng các chương trình tiên tiến, áp dụng các kỹ năng tư duy, kỹ năng quản lý và kỹ năng lao động gắn với nhu cầu thị trường.
Ba là, trong những năm trước mắt cũng như lâu dài Chính phủ vẫn cần thiết duy trì ưu tiên ổn định vĩ mô, giữ lạm phát ở mức 5 đến 6%, thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, linh hoạt, định hướng vào những ngành ưu tiên. Kinh nghiệm của một số nước, đặc biệt là Trung Quốc cho thấy có thể duy trì mức lạm phát thấp mà vẫn có thể đạt được tăng trưởng cao liên tục trong một thời kỳ dài; Tránh nóng vội tăng trưởng nhanh bằng cách lạm dụng yếu tố tiền tệ, thiếu sự kiểm soát để dẫn tới lạm phát cao gây nên các cú sốc như giai đoạn 5 năm từ 2008 đến nay.
Bốn là, từng bước thực hiện tái cấu trúc DN về thực chất, theo hướng thị trường, nhất là đối với các DNNN nhằm giảm sự thất thoát lãng phí trong sử dụng vốn, nâng cao hiệu quả kinh doanh, tạo môi trường lành mạnh và bình đẳng giữa các DN thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Cần có giải pháp cấp bách nhằm khắc phục tình trạng đình đốn sản xuất, tỷ lệ hàng tồn đọng cao của các DN như thực hiện chính sách miễn giảm thuế, phí… hỗ trợ và thúc đẩy tiêu dùng nội địa, chú ý tập trung vào đối tượng thu nhập trung bình và thấp trong xã hội. Thực hiện các chính sách thu hút các nguồn vốn trong nước đưa vào sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng.
Năm là, thực hiện đồng bộ các giải pháp (nhất là những chính sách về đất đai, đầu tư…) nhằm tận dụng cơ hội dịch chuyển dòng vốn FDI từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ vào các nước ASEAN, trong đó có Việt Nam định hướng dòng vốn này vào những lĩnh vực cần ưu tiên đầu tư, loại bỏ những dự án đầu tư với công nghệ cũ, lạc hậu… cũng như giảm thiểu tác động tiêu cực của đầu tư FDI lên cộng đồng DN trong nước.
Nghiên cứu mối liên hệ giữa tăng trưởng và lạm phát qua một thời kỳ dài thông qua các con số chỉ cho nhận xét chung nhất về sự biến động của 2 chỉ tiêu trên mà thôi. Bối cảnh của sự thay đổi này như thể chế, cơ cấu kinh tế, môi trường kinh doanh, các chủ thể tham gia nền kinh tế… tình hình trong nước và quốc tế (yếu tố hội nhập)… là những lý giải quan trọng tạo độ tin cậy, tính thuyết phục cho các nhận định về thực trạng và giải pháp. Yêu cầu này đòi hỏi phải có những nghiên cứu sâu hơn trong thời gian tới.

- Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng chính sách tiền tệ, công cụ lạm phát là quan trọng về nhiều khía cạnh nhưng hãy lưu ý, lạm phát là con dao hai lưỡi, sử dụng nó sao cho không tổn hại đến tăng trưởng trung và dài hạn. Nhóm tác giả muốn nhấn mạnh đặc biệt đến các yếu tố tăng trưởng và tăng trưởng bền vững. Giải pháp chính sách đề xuất là phải lựa chọn chuyển đổi mô hình tăng trưởng sang chất lượng làm chủ đạo. Quá trình chuyển đổi này, chúng ta có thể gắn với thuật ngữ tái cơ cấu kinh tế, tài chính ngân hàng hay DN… thì cũng cần phải có thời gian và đòi hỏi chi phí. Các chi phí chuyển đổi mô hình có thể làm chậm lại tốc độ tăng trưởng ở một chừng mực nhất định. Chúng ta đang cần động lực mới cho tăng trưởng kinh tế và phải có nghiên cứu, thực thi động lực này.
- So với các nước trong khu vực, Việt Nam đứng vào hàng các quốc gia có tốc độ tăng trưởng rất cao. Chất lượng tăng trưởng kinh tế cũng đang ngày càng được cải thiện nhờ đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong suốt thời kỳ đổi mới. Điều đó thể hiện ở các khía cạnh cơ bản sau:
+ Thu nhập theo đầu người ngày càng tăng.
+ Tỷ lệ nghèo đói có xu hướng giảm mạnh.
+ Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam tăng lên đáng kể.
+ Đời sống kinh tế, sinh hoạt của người dân ngày càng được cải thiện.
+ Cơ cấu kinh tế có sự dịch chuyển rõ nét theo hướng hiện đại hóa.
+ Năng suất lao động ngày càng tăng.
+ Thể chế kinh tế thị trường bước đầu được hình thành.

- Nhìn chung, đánh giá về mặt lượng, cho đến nay, nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng với mức độ khá cao và đạt được những thành tựu đáng tự hào về tăng GDP trên bình quân đầu người, giảm tỷ lệ nghèo đói, cải thiện chất lượng cuộc sống, tăng năng suất lao động, ổn định kinh tế vĩ mô, đổi mới thể chế,... Tuy nhiên, nếu nhìn nhận một cách tổng quát, khách quan thì chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam còn chưa tốt, thể hiện cụ thể như sau:
+ Hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào cho tăng trưởng kinh tế còn thấp (thiếu hụt vốn, sử dụng vốn đầu tư đem lại hiệu quả kinh tế thấp; lao động dư thừa, lãng phí, năng suất lao động thấp;…)
+ Chất lượng tăng trưởng kinh tế còn thấp thể hiện cả ở yếu tố đầu ra (cơ cấu xuất khẩu đang đối mặt với nhiều vấn đề: khả năng thu ngoại tệ chưa khai thác hết; chưa tận dụng được thời cơ, chậm khắc phục thách thức do cắt giảm thuế nhập khẩu theo lộ trình hội nhập đã cam kết; nhiều mặt hàng chưa có thương hiệu riêng hoặc phải dùng thương hiệu của nước khác khi xuất khẩu, không tạo ra được giá cả cạnh tranh với hàng hóa cùng loại của các nước trong khu vực và trên thế giới;…)
+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm và lạc hậu
+ Chênh lệch giàu nghèo có xu hướng gia tang
+ Tài nguyên môi trường chưa được khai thác hiệu quả, ô nhiễm môi trường gia tang; năng lực cạnh tranh quốc gia thấp và khoảng cách tụt hậu so với các nước trong khu vực có xu hướng tăng;…)
+ Năng lực cạnh tranh quốc gia thấp và khoảng cách tụt hậu so với các nước trong khu vực có xu hướng tăng.

- Tuy nhiên, theo nhiều đánh giá trong nước và quốc tế, mặc dù Việt Nam đạt được những kết quả tăng trưởng cao, nhưng đó là những kết quả tăng trưởng theo chiều rộng chứ chưa có sức bật tăng trưởng theo chiều sâu. Việt Nam vẫn đang ở trong ranh giới của những nước kém phát triển theo tiêu chuẩn của Liên hợp quốc.

Trần Hải Yến
Full transcript