Loading presentation...

Present Remotely

Send the link below via email or IM

Copy

Present to your audience

Start remote presentation

  • Invited audience members will follow you as you navigate and present
  • People invited to a presentation do not need a Prezi account
  • This link expires 10 minutes after you close the presentation
  • A maximum of 30 users can follow your presentation
  • Learn more about this feature in our knowledge base article

Do you really want to delete this prezi?

Neither you, nor the coeditors you shared it with will be able to recover it again.

DeleteCancel

Make your likes visible on Facebook?

Connect your Facebook account to Prezi and let your likes appear on your timeline.
You can change this under Settings & Account at any time.

No, thanks

HỌC THUYẾT KINH TẾ CỦA TRƯỜNG PHÁI KEYNES

No description
by

trang Trang

on 3 June 2016

Comments (0)

Please log in to add your comment.

Report abuse

Transcript of HỌC THUYẾT KINH TẾ CỦA TRƯỜNG PHÁI KEYNES

I.Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm:
II.Các lý thuyết kinh tế của Keynes
HỌC THUYẾT KINH TẾ CỦA TRƯỜNG PHÁI KEYNES
Chương 6: Học thuyết kinh tế của trường phái KEYNES
Nhóm 4:
Hoàng Trần Bảo Ngọc
Nguyễn Phương Trang
Phạm Thị Mỹ Duyên
Thái Trần Phương Dung
Lê Văn Thịnh
Võ Thành Hưng


Hoàn cảnh ra đời của học thuyết Keynes

Học thuyết kinh tế của Keynes ra đời trong cuộc khủng hoảng kinh tế thế giời 1929-1933.
Mâu thuẫn xã hội gay gắt, đòi hỏi cấp bách một lý thuyết kinh tế mới có khả năng giúp nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thoát được cơn khủng hoảng.

Công nhân thất nghiệp xếp hàng chờ trợ cấp thực phẩm 1929.


Người Mỹ xếp thành hàng dài chờ nhận đồ cứu tế ở thành phố New York năm 1932.

Những năm 30 của thế kỷ XX, lực lượng sản xuất xã hội đã phát triển mạnh mẽ, xã hội hóa ngày càng cao, đòi hỏi phải có sự điều chình, tác động của nhà nước vào sự phát triển kinh tế - xã hội.
Bên cạnh, sự thành công trong thực tiễn lý luận Marxism về kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân Liên Xô buộc các nhà kinh tế tư sản nghĩ đến khả năng của nhà nước trong điều tiết kinh tế, thiết lập các chương trình phát triển

John Maynard Keynes (1883-1946), sinh ở Anh, là nhà kinh tế học, giáo sư của trường đại học Cambridge. Ông là chuyên gia trong lĩnh vực tài chình tín dụng và lưu thông tiền tệ, làm cố vấn cho chính phù Anh về ngân khố quốc gia.
Đặc điểm phương pháp luận Keynes
• Phân tích nền kinh tế dưới gốc độ vĩ mô và có hệ thống.
• Phủ nhận cơ chế “ tự điều tiết” của trường phái Tân cổ điển.
• Đề cao vai trò của nhà nước trong việc điều tiết kinh tế.

Về lý thuyết tổng cầu
2 nhân tố cơ bản: tổng cung và tổng cầu
Nhân tố ảnh hưởng trực tiếp là tổng cầu .
Tổng cầu thì lại phụ thuộc vào các yếu tô như: mức chi tiêu mỗi hộ gia đình, mức chi tiêu cho đầu tư, các yếu tồ xuất nhập ròng.
Tổng cung sẽ không bao giờ theo kịp tổng cầu.
Dẫn đến việc tình hình sản xuất, thu hẹp đầu tư ==> nạn thất nghiệp
Cách giải quyết :
TĂNG
TỔNG CẦU
Việc kích thích tổng cầu sẽ làm cho tổng cung cũng sẽ cố gắng tăng mạnh theo để được hưởng lợi.
sản lượng quốc gia cũng sẽ tăng
KEYNES đánh giá cao vai trò của tiêu dùng, trao đổi, coi tiêu dùng và trao đổi là nhiệm vụ số một mà nhà kinh tế học phải giải quyết.
Cần nâng cầu tiêu dùng, kích thích cầu có hiệu quả => có thể coi đây là
lý thuyết trọng cầu.
2. Lý thuyết “khuynh hướng tiêu dùng cận biên”
Chia thu nhập ra làm 2 phần :
TIÊU DÙNG
Tiết kiệm
2 khuynh hướng : khuynh hướng tiêu dùng và khuynh hướng tiết kiệm.
Hàm số tiêu dùng : C=f(Y)
Hàm số tiết kiệm : S=g(Y)

Khuynh hướng tiêu dùng giới hạn: : Là khuynh hướng cá nhân phân chia phần thu nhập tăng thêm cho tiêu dùng theo tỷ lệ ngày càng giảm dần.
Biểu thị khuynh hướng tiêu dùng giới hạn (KHTDGH) (toán học): Kí hiệu: KHTDGH = dC / dR
Trong đó: C là chi tiêu cho tiêu dùng rút ra từ thu nhập, dC là gia tăng tiêu dùng, R là Thu nhập, dR là gia tăng thu nhập

Khuynh hướng tiêu dùng cận biện:
MPC
( Marginal propensity to consume) là mối quan hệ giữa sự gia tăng tiêu dùng so với gia tăng thu nhập
MPC= deltaC/deltaY
Khuynh hướng tiết kiệm cận biên:
MPS
( marginal propensity to Save) là mối quan hệ giữa sự gia tăng tiết kiệm so với gia tăng thu nhập
MPS = DeltaS/DEltaY

MPS sẽ ngày càng tăng và đồng thời MPC sẽ giảm tương đối so với sự gia tăng của MPS. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng kinh tế và thất nghiệp.
SỐ NHÂN ĐẦU TƯ

Số nhân đầu tư: là mối quan hệ giữa gia tăng thu nhập (dR) với gia tăng đầu tư (dI).(là hệ số bằng số nói lên mức độ tăng của sản lượng do kết quả của mỗi đơn vị đầu tư).

Mỗi sự gia tăng đầu tư kéo theo sự gia tăng cầu về tư liệu sản xuất và sức lao động, kích thích sản xuất phát triển, tăng thu nhập (tăng sản lượng) và đến lượt nó thu nhập tăng lại làm tiền đề cho sự gia tăng đầu tư mới. Vì thế số nhân làm cho thu nhập phóng đại lên nhiều lần.


III.Các lý thuyết của trường phái KENYES mới
Lý thuyết lãi suất và “hiệu quả cận biên của tư bản”
Về bản chất, lãi suất là số tiền trả cho việc không sử dụng tiền mặt trong một khoảng thời gian nhất định. Có
2
nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất:
+
khối lượng tiền tệ
đưa vào lưu thông (tăng khối lượng tiền sẽ giảm lãi suất)
+
sự ưa thích tiền mặt
(là một khuynh hướng ấn định khối lượng tiền mặt mà người ta muốn giữ lại theo lãi suất nhất định).
lãi suất đo lường
sự tự nguyện
của người có tiền không sử dụng tiền mặt của họ.
M=L(r)
Trong đó: M: khối lượng tiền tệ
r: lãi suất
L:hàm số ưa chuộng tiền mặt
Cầu về tiền tệ biến thiên theo r, nếu M tăng sẽ đẩy r lên cao.

Hiệu quả cận biên của tư bản là hiệu quả tăng thêm khi tăng thêm một đơn vị tư bản (tỷ suất lợi nhuận tăng thêm khi tăng thêm một đơn vị vốn đầu tư).
Phần lời triển vọng (Lợi nhuận) = Số tiền bán hàng – Phí tổn thay thế (chi phí sản xuất)
Hiệu quả cận biên của tư bản = (phần lời triển vọng ÷ phí tổn thay thế)×100%
Cùng với sự tăng lên của vốn đầu tư, hiệu quả cận biên của tư bản ngày càng giảm.
Hiệu quả cận biên của tư bản có mối quan hệ với lãi suất.
Như vậy, giới hạn của các cuộc đầu tư là sự chênh lệch giữa hiệu quả cận biên của tư bản và lãi suất.
Giới hạn đầu tư của tư bản=hiệu quả cận biên của tư bản – lãi suất
Mối quan hệ giữa đầu tư và hiệu quả cận biên của tư bản thể hiện qua khái niệm “đường cong đầu tư” hay “đường cong hiệu quả cận biên của tư bản”
Lý thuyết về vai trò điều tiết kinh tế của nhà nước tư sản
Nhà nước phải duy trì cầu đầu tư để kích thích cả đầu tư Nhà nước và tư nhân.
Sử dụng hệ thống tài chính, tín dụng và lưu thông tiền tệ làm công cụ.
Thực hiện “lạm phát kiểm soát” như:
Tăng mức lưu thông tiền tệ để giảm lãi suất cho vay
In tiền giấy
Khuyến khích mọi hình thức đầu tư
Kể cả đầu tư cho chiến tranh
Trên cơ sở học thuyết của J.M.Keynes, các nhà kinh tế học tư sản đã xây dựng thành trường phái Keynes mới với ba trào lưu: cánh hữu, tự do và cánh tả.
Chủ nghĩa Keynes phát triển qua hai thời kì :

Từ những năm 70 của thế kỉ XX trở về sau là chủ nghĩa Keynes trọng cung
Trước những năm 70 của thế kỉ XX là chủ nghĩa Keynes trọng cầu
Chủ nghĩa Keynes đã phát triển ở nhiều nước tư bản
Các lý thuyết của trường phái Keynes ở Mỹ
Mô hình điều chỉnh kinh tế của Keynes được áp dụng lần đầu tại Mỹ
Alvin Hansen đưa ra lý thuyết về “sự ngưng trệ” cho rằng nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp là do các động lực phát triển kinh tế suy yếu.
Nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp là do các động lực phát triển kinh tế suy yếu. Những nhân tố tác động bao gồm :
+nhân tố bên ngoài

+nhân tố bên trong

Sự tăng chậm dân số
Sự tăng chậm khoa học kỹ thuật
Các cuộc chiến tranh
Sự “rò rỉ” trong chi tiêu do có sự “tăng dần tiết kiệm”
tác dụng của số nhân sẽ giảm đi, sản xuất sẽ sụt giảm và nền kinh tế có nguy cơ bị trì trệ và đi vào suy thoái.
A.Hanse và John Maurice Clark đã tìm cách mở rộng lý thuyết số nhân của Keynes đề ra nguyên lý gia tốc .
Nguyên lý gia tốc thực ra là lý thuyết về các nhân tố quyết định “đầu tư”, nó phản ánh mối quan hệ giữa gia tăng sản lượng sẽ làm gia tăng đầu tư.
John Maurice Clark
Để thực hiện cơ cấu số nhân-gia tốc, các nhà kinh tế Mỹ đã đưa ra các giải pháp như : thực hiện rộng rãi đơn đặt hàng của nhà nước, phát triển hệ thống mua của nhà nước để tiếp sức cho kinh tế tư nhân…
Các nhà kinh tế Mỹ coi hoạt động ngân sách nhà nước là “công cụ ổn định bên trong của nền kinh tế”.
Các nhà kinh tế Mỹ còn đưa ra các biện pháp “điều hòa”
Ở Pháp, những người theo trường phái “Keynes mới” được chia thành hai nhóm.
Nhóm thứ nhất, muốn tiếp thu nguyên vẹn lý luận của Keneys áp dụng vào Pháp mà không cần có sự sửa đổi nào.
Nhóm thứ hai, là những người ủng hộ sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế.
Nhưng cũng đưa ra những ý kiến phê phán Keynes, như cho rằng tư tưởng dùng lãi suất để điều tiết kinh tế của Keynes là không có hiệu quả.
Kế hoạch hóa, theo các nhà kinh tế Pháp, là công cụ điều tiết tổng hợp các hoạt động của các đơn vị kinh tế.
Đại biểu cho xu hướng này là Peru, ông muốn phối hợp sự điều tiết của nhà nước với lợi ích tư nhân tư bản độc quyền.
Việc nghiên cứu dự đoán dài hạn và các kế hoạch phát triển kinh tế cho đến nay không những được tiến hành ở Pháp mà còn ở nhiều nước phát triển khác như Nhật Bản, Ấn Độ,.. Điều này phản ánh nhu cầu tất yếu phải kế hoạch hóa khi nền kinh tế phát triển và sản xuất được xã hội hóa cao độ.
IV.Ý nghĩa và hạn chế của học thuyết Keynes
Ý nghĩa và thành tựu của học thuyết kinh tế Kaynes
Tác dụng tích cực nhất định đối với sự phát triển kinh tế trong các nước tư bản
Góp phần thúc đẩy kinh tế của các nước tư bản phát triển.
Hạn chế được khủng hoảng và thất nghiệp, nhất là trong những năm 50 – 60 của thế kỷ XX.
Tốc độ phát triển kinh tế của nhiều nước rất cao tạo nên những thần kì như Nhật
Thụy Sĩ
Các khái niệm của Keynes được sử dụng trong phân tích kinh tế vĩ mô ngày nay.
Vì vậy, học thuyết này giữ vị trí thống trị trong hệ thống tư tưởng kinh tế tư sản một thời gian dài.
Hạn chế của học thuyết kinh tế KANYES
Thất nghiệp vẫn duy trì ở mức cao.
Khủng hoảng không trầm trọng như trước nhưng vẫn xảy ra thường xuyên, thời gian giữa các cuộc khủng hoảng kinh tế ngắn hơn.

Chính sách lạm phát có mức độ (có kiểm soát) làm cho lạm phát càng trầm trọng, tác hại lớn hơn cái lợi nó mang lại.
Phương pháp luận thiếu khoa học, biểu hiện:
+Xuất phát từ tâm lý con người để giải thích nguyên nhân kinh tế.
→Những năm 70 của thế kỉ XX các nhà kinh tế học tư sản đã phê phán những học thuyết của trường phái Keynes, đòi xếp chủ nghĩa Keynes vào viện bảo tang và đi tìm một hệ thống lí luận kinh tế khác để thay thế. Tuy nhiên, các học thuyết kinh tế tư sản hiện đại mặc dù phê phán học thuyết của Keynes song vẫn không thể tách rời khỏi học thuyết này được.
Full transcript