Loading presentation...

Present Remotely

Send the link below via email or IM

Copy

Present to your audience

Start remote presentation

  • Invited audience members will follow you as you navigate and present
  • People invited to a presentation do not need a Prezi account
  • This link expires 10 minutes after you close the presentation
  • A maximum of 30 users can follow your presentation
  • Learn more about this feature in our knowledge base article

Do you really want to delete this prezi?

Neither you, nor the coeditors you shared it with will be able to recover it again.

DeleteCancel

TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA NHO GIA

No description
by

windy ocean

on 21 November 2016

Comments (0)

Please log in to add your comment.

Report abuse

Transcript of TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA NHO GIA

TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA NHO GIA
KHÁI QUÁT VỀ NHO GIA
Nho gia là trường phái triết học có ảnh hưởng lớn nhất, là hệ tư tưởng thống trị trong suốt thời kỳ phong kiến ở Trung Quốc, tư tưởng Nho gia ảnh hưởng sâu sắc tới mọi mặt của đời sống xã hội Trung Quốc trong cả tiến trình lịch sử và các nước láng giềng trong đó có Việt Nam. Tư tưởng của Nho gia do Khổng Tử sáng lập.
KHỔNG TỬ (551 – 479 tr.CN)
Khổng Tử tên là Khâu, tự là Trọng Ni, sinh ngày 27 tháng 8 năm Canh Tuất (tức năm 551 TCN), đời vua Châu Linh Vương năm thứ 21 nhà Châu, tương ứng với đời vua Lỗ Tương Công năm thứ 22, tại làng Xương Bình, huyện Khúc Phụ, nước Lỗ, bây giờ là Tỉnh Sơn Đông nước Trung Hoa.
NỘI DUNG TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CƠ BẢN CỦA KHỔNG TỬ
Tư tưởng chính trị của Khổng Tử là vì sự bình ổn của xã hội- một xã hội thái bình thịnh trị. Theo Khổng Tử là chính đạo, đạo người làm chính trị là phải ngay thẳng, lấy chính trị để dẫn dắt dân. Để thiên hạ có đạo, quay về lễ, phải củng cố điều Nhân, coi trọng lễ nghĩa thì xã hội sẽ ổn định.Khổng Tử đề ra thuyết :
“ Nhân - Lễ - Chính danh”.
Nhóm thực hiện
Đàm Thị Thanh Hằng
Lê Hương Giang
Vũ Thị Tâm
Đỗ Thị Lợi
Trần Quốc Bảo
Nguyễn Minh CHâu
Đỗ Quốc Trưởng
Nguyễn Kiên Giang
Đoàn Trọng Hiếu
Hoàng Việt Dũng
Ông là một nhà tư tưởng, nhà triết học, nhà giáo dục, nhà chính trị nổi tiếng người Trung Hoa, các bài giảng và triết lý của ông có ảnh hưởng sâu rộng đối với đời sống và tư tưởng của các dân tộc Đông Á.
Ở thời Chiến Quốc Nho gia đã được Mạnh Tử và Tuân Tử hoàn thiện và phát triển.
Nhân là phạm trù trung tâm trong học thuyết chính trị của Khổng Tử. Nhân là thước đo quyết định thành bại, tốt xấu của chính trị.
Nội dung của Nhân bao hàm các vấn đề đạo đức, luân lí của xã hội. Biểu hiện trong chính trị như sau:
Thương yêu con người
Tu dưỡng bản thân, sửa mình theo lễ là nhân
Tôn trọng và sử dụng người hiền
Nội dung của Nhân là nhân đạo, thương yêu con người, giúp đỡ lẫn nhau.


Lễ: Là qui định, nghi thức trong cúng tế.
Khổng Tử lí luận hóa biến Lễ thành những qui định, trật tự phân chia thứ bậc trong xã hội, thể hiện trong sinh hoạt: hành vi, ngôn ngữ…. Ai ở địa vị nào thì sử dụng lễ ấy, lễ là bộ phận của Nhân, Lễ là ngọn, Nhân là gốc.
Lễ qui định chuẩn mực cho các đối tượng quan hệ: vua- tôi, cha- con, chồng- vợ, chúng có quan hệ 2 chiều, phụ thuộc nhau

Chính danh là danh phận đúng đắn, ngay thẳng. Là phạm trù cơ bản trong thuyết chính trị của Khổng Tử. Phải xác định danh phận, đẳng cấp, vị trí của từng cá nhân, tầng lớp trong xã hội. Danh phải phù hợp với thực, nội dung phải phù hợp với hình thức. Đặt con người vào đúng vị trí, chức năng, phải xác định danh trước khi có thực
Chính danh và Lễ có mối quan hệ chặt chẽ: muốn danh được chính thì phải thực hiện lễ, chính danh là điều kiện để trau dồi lễ.

Mạnh Tử, tên là Mạnh Kha, tự là Tử Dư, sinh vào đời vua Liệt Vương, nhà Chu, quê gốc ở đất Châu, thuộc nước Lỗ, nay là thành phố Châu Thành, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc.
Mạnh Tử là đại biểu xuất sắc của Nho giáo thời Chiến Quốc, thời kỳ nở rộ các nhà tư tưởng lớn với các trường phái như Pháp gia, Du thuyết, Nho gia, Mặc gia... (thời kỳ bách gia tranh minh). Trong hoàn cảnh lịch sử đó, Mạnh Tử phát triển thêm tư tưởng của Khổng Tử với chủ trương dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh, ông cũng là người đưa ra thuyết tính thiện của con người rằng con người sinh ra đã là thiện rồi nhân chi sơ bản tính thiện, tư tưởng này đối lập với thuyết tính ác của Tuân Tử rằng nhân chi sơ bản tính ác. Ông cho rằng "kẻ lao tâm trị người còn người lao lực thì bị người trị". Học thuyết của ông gói gọi trong các chữ "Nghĩa", "Trí", "Lễ", "Tín".
MẠNH TỬ (372–289 TCN)
Tuân tử (313- 238 TCN) tên là Huống, tự là Khanh, người nước Triệu, là nhà triết học duy vật kiệt xuất trong lịch sử triết học Trung Quốc cổ đại.
Đứng trên lập trường cơ bản là duy vật, Tuân Huống đã tổng kết, kế thừa có phê phán tất cả các trào lưu tư tưởng trước đó trên tất cả các phương diện vũ trụ quan, biện chứng pháp, nhận thức luận, luân lý xã hội... xây dựng nên học thuyết của mình. Có thể nói ông là người tổng kết lịch sử tư tưởng triết học cổ đại Trung Quốc
TUÂN TỬ (313 – 238 TCN)
TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CƠ BẢN CỦA MẠNH TỬ
Mạnh Tử đã kế thừa và phát triển những tư tưởng của Khổng Tử, xây dựng học thuyết
“ Nhân chính”
. Tư tưởng chính trị bao gồm những nội dung sau:
Theo Mạnh Tử, bản tính tự nhiên của con người là thiện ( nhân chi sơ tính bản thiện). Con người có lòng trắc ẩn thì tự nhiên có lòng tu ố, từ nhượng, thị phi. Lòng trắc ẩn là nhân, lòng tu ố là nghĩa, lòng từ nhượng là lễ, lòng thị phi là trí.
Thiên tử là do trời trao cho thánh nhân, vận mệnh trời nhất trí với ý dân. Quan hệ vua- tôi là quan hệ 2 chiều. Tiến thêm 1 bước ông cho rằng: nếu vua không ra vua thì phải loại bỏ, vua tàn ác thì phải gọi là thằng.
Mạnh Tử là người đầu tiên đưa ra tư tưởng trọng dân: dân là quí nhất, quốc gia thứ hai, vua không đáng trọng.
Quân tử là người lao tâm, cai trị người và được cung phụng. Tiểu nhân là người lao lực, bị cai trị và phải cung phụng người. Mạnh tử đề xuất chủ trương “ thượng hiền” dùng người hiền tài để thực hành nhân chính.
Mạnh Tử kịch liệt phản đối “bá đạo”, nguồn gốc của mọi rối ren loạn lạc. Chính trị “vương đạo” là nhân chính lấy dân làm gốc.
Ảnh hưởng của nho giáo Trung Quốc với Việt Nam
Giáo dục: tiên học lễ hậu học văn
Kiến trúc: đền thờ, văn miếu mang đậm chất nho giáo
Nho giáo trở thành tiêu chuẩn đánh giá phẩm chất đạo đức của con người
Nho giáo cũng có những mặt tiêu cực là xem nhẹ dân, không phát huy sức sáng tạo của dân
Tư tưởng coi thường phụ nữ ăn sâu vào đầu óc người Việt Nam từ xưa đến nay
Về kinh tế: Nho giáo cũng khuyên người ta nên làm giàu, tạo ra của cải vật chất cho xã hội “dân giàu, nước mạnh”.
Full transcript