Loading presentation...

Present Remotely

Send the link below via email or IM

Copy

Present to your audience

Start remote presentation

  • Invited audience members will follow you as you navigate and present
  • People invited to a presentation do not need a Prezi account
  • This link expires 10 minutes after you close the presentation
  • A maximum of 30 users can follow your presentation
  • Learn more about this feature in our knowledge base article

Do you really want to delete this prezi?

Neither you, nor the coeditors you shared it with will be able to recover it again.

DeleteCancel

Make your likes visible on Facebook?

Connect your Facebook account to Prezi and let your likes appear on your timeline.
You can change this under Settings & Account at any time.

No, thanks

Thaohuyen

No description
by

Huyen Huyen

on 14 September 2014

Comments (0)

Please log in to add your comment.

Report abuse

Transcript of Thaohuyen


LỚP 13DTD2


Phương pháp điều chỉnh
Bố cục

LUẬT HÌNH SỰ

Đối tượng điều chỉnh của luật hình sự là những quan hệ xã hội phát sinh giữa Nhà nước và người phạm tội khi người này thực hiện tội phạm.
- Phương pháp điều chỉnh của luật hình sự là phương pháp quyền uy. Trong đó nhà nước có quyền tối cao trong việc định đoạt số phận của người phạm tội, buộc họ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm mà họ đã gây ra.
- Trách nhiệm hình sự về tội phạm đã gây ra là trách nhiệm thuộc về cá nhân người phạm tội, phải do chính người phạm tội trực tiếp gánh chịu, mà không “chuyển” hoặc “uỷ thác” cho người khác.
Đối Tượng Điều Chỉnh
1. Khái quát chung về Luật Hình sự
1.1. Đối tượng điều chỉnh
1.2. Phương pháp điều chỉnh
2. Tội phạm và hình phạt
2.1. Tội phạm
2.2. Hình phạt
Khái quát chung về luật hình sự
a. Khái niệm
b. Các dấu hiệu cơ bản và phân loại tội phạm
c. Cấu thành tội phạm : (chủ thể, khách thể, chủ quan, khách quan)
d. Các trường hợp không xem là tội phạm
e. Đồng phạm
f. Các giai đoạn thực hiện tội phạm
g. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tội Phạm
 Theo Điều 8 của Bộ luật Hình sự : Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa
Khái niệm
Phân Loại Tội Phạm
Các Dấu Hiệu Cơ Bản và
Phân Loại Tội Phạm
Tội phạm ít nghiêm trọng: Mức cao nhất của khung hình phạt đối với loại tội này là đến 3 năm tù.
Tội phạm nghiêm trọng: Mức cao nhất của khung hình phạt đối với loại tội này là đến 7 năm tù.
Tội phạm rất nghiêm trọng: Mức cao nhất của khung hình phạt đối với loại tội này là đến 15 năm tù.
Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng: Mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội này là trên 15 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

CÁC DẤU HIỆU CƠ BẢN
Tính nguy hiểm cho xã hội:
Là thuộc tính khách quan, là dấu hiệu  vật chất của tội phạm. Hành vi nguy hiểm cho xã hội được coi là tội phạm phải là hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ.
Tính có lỗi của tội phạm:
Lỗi là thái độ tâm lý của một người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra. Trong Bộ luật hình sự, tính có lỗi là một dấu hiệu độc lập với tính nguy hiểm cho xã hội. Không thể buộc tội một người mà chỉ căn cứ vào hành vi khách quan họ đã thực hiện.
Tính trái pháp luật hình sự:
Hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ được coi là tội phạm nếu nó được quy định trong luật hình sự.

Tính phải chịu hình phạt:
Bất cứ một hành vi phạm tội nào cũng đều bị đe dọa phải chịu hình phạt. Chỉ có hành vi phạm tội mới phải chịu hình phạt, tội càng nghiêm trọng thì hình phạt áp dụng càng nghiêm khắc.
GVHD: DƯƠNG KIM THẾ NGUYÊN
Nhóm 5
Tội Phạm và
Hình Phạt
Cấu thành tội phạm
Cấu thành tội phạm là tổng
hợp các dấu hiệu chung có tính đặc trưng cho một loại tội cụ thể được quy định trong Bộ Luật Hình Sự
Bốn yếu tố cấu thành tội phạm
Mặt khách quan của tội phạm gồm:
Những hành vi biểu hiện ra bên ngoài tội phạm như : hành vi trái pháp luật, gây tổn hại về vật chất, tinh thần cho xã hội, sự thiệt hại phải do chính hành vi trái pháp luật đó gây ra.
Mặt chủ quan gồm:
Lỗi, động cơ, mục đích của chủ thể hành vi trái pháp luật ( thể hiện trạng thái tâm lí của chủ thể cũng như về hậu quả của hành vi trái pháp luật mà chủ thể gây nên).
Chủ thể của tội phạm:
Là con người cụ thể, phải tính đến độ tuổi khi chủ thể có hành vi phạm tội ( tuổi truy cứu trách nhiệm hình sự), năng lực pháp lí trong lĩnh vực đó, trạng thái tâm lí ( thần kinh) của người đó khi phạm tội…….. nếu không có chủ thể tội phạm thì không thể có hành vi phạm tội.

Khách thể của tội phạm:
những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ nhưng lại bị hành vi vi phạm pháp luật xâm hại đến. Tính chất của khách thể phản ánh mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật.
Các Trường Hợp Không Xem Là Tội Phạm
Điều 11: Sự kiện bất ngờ: là trường hợp người thực hiện hành vi không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi. Điều đó có nghĩa là, trong hoàn cảnh xảy ra sự việc cụ thể, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không có điều kiện để nhận thức, đánh giá hậu quả do hành vi của mình gây ra.

Điều 15: Phòng vệ chính đáng: là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.

Điều 16: Tình thế cấp thiết: là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa tới lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải gây ra một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.

ĐỒNG PHẠM
- Theo quy định tại khoản 1 Điều 20 Bộ luật hình sự thì Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.
- Chế định đồng phạm quy định trong Bộ luật hình sự có hai loại mà theo khoa học luật hình sự gọi là đồng phạm giản đơn và đồng phạm phức tạp (phạm tội có tổ chức).


Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm (khoản 3 Điều 20 Bộ luật hình sự)
Phạm tội có tổ chức, là trường hợp nhiều người cố ý cùng bàn bạc, cấu kết chặt chẽ với nhau, vạch ra kế hoạch để thực hiện một tội phạm, dưới sự điều khiển thống nhất của người cầm đầu.
Đồng phạm giản đơn là trường hợp tất cả những người cùng thực hiện một tội phạm đều là người thực hành. Ví dụ: A rủ B và C vào trong kho của Công ty H lấy trộm một máy bơm nước.
CÁC GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN PHẠM TỘI
HÌNH

PHẠT
KHÁI NIỆM
Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội.
Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự và do Toà án quyết định
MỤC ĐÍCH
Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
Các giai đoạn thực hiện
tội phạm là các mức độ thực hiện tội phạm cố ý, bao gồm: - Chuẩn bị phạm tội.
- Phạm tội chưa đạt.
- Tội phạm hoàn thành

Chuẩn bị phạm tội: là giai đoạn trong đó ng phạm tội có hành vi tạo ra những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm nhưng chưa băt đầu thực hiện tội phạm đó

Tội phạm hoàn thành
Là trường hợp hành vi phạm tội đã thỏa mãn hết các dấu hiệu đc mô tả trong CTTP. Nghĩa là khi tội phạm hoàn thành thì hành vi đã có đủ các dấu hiệu phản ánh đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của loại tội đó.



Các loại
hình phạt
Hình phạt
chính

Hình phạt
bổ sung
CẢM ƠN THẦY VÀ CÁC BẠN
ĐÃ LẮNG NGHE!
1. Khái niệm và mục đích của hình phạt
2. Các loại hình phạt
3. Quyết định hình phạt, miễn hình phạt và hoãn chấp hành hình phạt.
4. Tổng hợp hình phạt

a) 
Cảnh cáo
(Điều 29 Bộ luật hình sự): là sự khiển trách công khai của nhà nước do Tòa án tuyên đối với người phạm tội. Cảnh cáo là loại hình phạt nhẹ nhất trong hệ thống hình phạt.
b)
Phạt tiền
(Điều 30 Bộ luật hình sự): là loại hình phạt tước của người bị kết án một khoản tiền nhất định sung công quỹ nhà nước. Mức phạt tiền phụ thuộc vào tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm
c)
Cải tạo không giam giữ
(Điều 31 Bộ luật hình sự): là loại hình phạt không buộc người bị kết án cách ly khỏi đời sống xã hội mà được cải tạo ở môi trường xã hội bình thường có sự giám sát, giúp đỡ của gia đình, cơ quan, tổ chức và cộng đồng.
d) 
Trục xuất
(Điều 32 Bộ luật hình sự): là loại hình phạt buộc người nước ngoài bị kết án phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
* Đây là loại hình phạt mới được quy định trong Bộ luật hình sự 1999, vừa là hình phạt chính, vừa là hình phạt bổ sung và  không quy định điều kiện áp dụng hình phạt này.
f)
Tử hình
(Điều 35 Bộ luật hình sự): chỉ có thể áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng để tước đi sinh mạng của người đó khi không còn khả năng để giáo dục và cải tạo họ. Hình phạt tử hình không áp dụng đối với người chưa thành niên khi phạm tội, với phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi xét xử.
- Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. ( Điều 36 bộ luật hình sự năm 1999)
- Cấm cư trú. (Điều 37 bộ luật hình sự năm 1999)
- Quản chế ( Điều 38 bộ luật hình sự)
- Tước một số quyền công dân
(Điều 39 bộ luật hình sự)
- Tịch thu tài sản (điều 40 bộ luật hình sự)
Đối với mỗi tội phạm, người phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể không bị áp dụng hình phạt bổ sung hoặc bị áp dụng một hoặc nhiều hình phạt bổ sung (khoản 3 điều 38 BLHS năm 1999). Do đó, hình phạt chính được tuyên độc lập, còn hình phạt bổ sung luôn phải đi kèm với hình phạt chính.
Phạm tội chưa đạt: là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.
- Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.

Theo điều 45 Bộ luật Hình sự: Căn cứ quyết định hình phạt
Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào qui định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng hình sự.
Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật:
- Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.
Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội
Khi xét xử cùng một lần một người phạm nhiều tội, Toà án quyết định hình phạt đối với từng tội, sau đó tổng hợp hình phạt theo quy định sau đây:
1. Đối với hình phạt chính :
a) Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là cải tạo không giam giữ hoặc cùng là tù có thời hạn, thì các hình phạt đó được cộng lại thành hình phạt chung; hình phạt chung không được vượt quá ba năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, ba mươi năm đối với hình phạt tù có thời hạn;
b) Nếu các hình phạt đã tuyên là cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, thì hình phạt cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành hình phạt tù theo tỷ lệ cứ ba ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành một ngày tù để tổng hợp thành hình phạt chung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;
đ)
Tù có thời hạn
(Điều 33 Bộ luật hình sự) Tù có thời hạn là loại hình phạt buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời gian nhất định. Thời hạn của hình phạt tù có thời hạn từ 3 tháng đến 20 năm (đối với trường hợp phạm nhiều tội mức hình phạt tối đa là 30 năm tù).

e)
Tù chung thân
(Điều 34 Bộ luật hình sự)  Tù chung thân là loại hình phạt buộc người bị kết án phải cách ly khỏi đời sống xã hội, chấp hành hình phạt trong trại cải cải tạo cho đến khi chết.

c) Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tù chung thân thì hình phạt chung là tù chung thân;
d) Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tử hình thì hình phạt chung là tử hình;
đ) Phạt tiền không tổng hợp với các loại hình phạt khác; các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung;
e) Trục xuất không tổng hợp với các loại hình phạt khác.
2. Đối với hình phạt bổ sung:
a) Nếu các hình phạt đã tuyên là cùng loại thì hình phạt chung được quyết định trong giới hạn do Bộ luật này quy định đối với loại hình phạt đó; riêng đối với hình phạt tiền thì các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung;
b) Nếu các hình phạt đã tuyên là khác loại thì người bị kết án phải chấp hành tất cả các hình phạt đã tuyên.
Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt
- Đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng là không quá hai mươi năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định.
- Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì chỉ có thể áp dụng các hình phạt này trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định.
Miễn hình phạt
Người phạm tội có thể được miễn hình phạt trong trường hợp phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, đáng được khoan hồng đặc biệt, nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự.
1. Đối với người bị kết án cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, chưa chấp hành hình phạt mà lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và nếu người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.
2. Người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt khi được đặc xá hoặc đại xá.
3. Đối với người bị kết án về tội ít nghiêm trọng đã được hoãn chấp hành hình phạt theo quy định tại Điều 61 của Bộ luật này, nếu trong thời gian được hoãn đã lập công, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát, Toà án có thể quyết định miễn chấp hành hình phạt.
4. Đối với người bị kết án phạt tù về tội ít nghiêm trọng đã được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này, nếu trong thời gian được tạm đình chỉ mà đã lập công, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát, Toà án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.
5. Người bị phạt cấm cư trú hoặc quản chế, nếu đã chấp hành được một phần hai thời hạn hình phạt và cải tạo tốt, thì theo đề nghị của chính quyền địa phương nơi người đó chấp hành hình phạt, Toà án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.
Miễn chấp hành hình phạt

1. Người bị xử phạt tù có thể được hoãn chấp hành hình phạt trong các trường hợp sau đây:
a) Bị bệnh nặng được hoãn cho đến khi sức khỏe được hồi phục;
b) Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, thì được hoãn cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi;
c) Là người lao động duy nhất trong gia đình, nếu phải chấp hành hình phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt, được hoãn đến một năm, trừ trường hợp người đó bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng;
d) Bị kết án về tội ít nghiêm trọng, do nhu cầu công vụ, thì được hoãn đến 1 năm.
2. Trong thời gian được hoãn chấp hành hình phạt tù, nếu người được hoãn chấp hành hình phạt lại phạm tội mới, thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật.
Hoãn chấp hành hình phạt tù
Full transcript