Loading presentation...

Present Remotely

Send the link below via email or IM

Copy

Present to your audience

Start remote presentation

  • Invited audience members will follow you as you navigate and present
  • People invited to a presentation do not need a Prezi account
  • This link expires 10 minutes after you close the presentation
  • A maximum of 30 users can follow your presentation
  • Learn more about this feature in our knowledge base article

Do you really want to delete this prezi?

Neither you, nor the coeditors you shared it with will be able to recover it again.

DeleteCancel

Make your likes visible on Facebook?

Connect your Facebook account to Prezi and let your likes appear on your timeline.
You can change this under Settings & Account at any time.

No, thanks

Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam

No description
by

Phan Toản

on 24 April 2014

Comments (0)

Please log in to add your comment.

Report abuse

Transcript of Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam

Những đóng góp của ngành thương mại trong quá trình hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới của VN
A. Lời mở đầu
B. Cơ sở lý luận
C. Những đóng góp của ngành Thương mại VN ...

I- Quá trình hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam
1. Tiến trình hội nhập kinh tế thế giới của VN
- Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình gắn kết các nền kinh tế của từng nước với kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự do hóa và mở cửa nền kinh tế theo những hình thức khác nhau.
Hội nhập kinh tế quốc tế bao gồm:
- Thỏa thuận thương mại ưu đãi (PTA)
- Khu vực mậu dịch tựu do (FTA).
- Liên minh thuế quan (CU).
- Thị trường chung.
- Liên minh kinh tế - tiền tệ

Về quan hệ hợp tác song phương:
- Thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 170 quốc gia
- Mở rộng quan hệ thương mại, xuất khẩu hàng hoá tới trên 230 thị trường của các nước và vùng lãnh thổ
- ...

Về hợp tác đa phương và khu vực:
- Tháng 7/1995 Việt Nam đã gia nhập ASEAN và chính thức tham gia Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) từ 1/1/1996
- Năm 1996, Việt Nam tham gia sáng lập Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM)
- Năm 1998, được kết nạp vào Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC).
- Ngày 11/1/2007, trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO)
- ...
2. Những thành tựu đã đạt được trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới
2.2. Việt Nam đang tích cực tham gia vào đàm phán, ký kết các Hiệp định thương mại tự do
Việt Nam đã tham gia thiết lập FTA với 15 nước trong khung khổ của 6 FTA khu vực, bao gồm:
- Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) được thiết lập bởi Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung từ năm 1996
- Khu vực thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc
- Khu vực thương mại tự do ASEAN- Hàn Quốc
- Khu vực thương mại tự do ASEAN – Nhật Bản
- Khu vực thương mại tự do ASEAN – Úc và Niu Dilân
- Khu vực thương mại tự do ASEAN - Ấn Độ
2.3. Việt Nam đã và đang thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế với mức độ tự do hoá sâu rộng
Các cam kết trong khuôn khổ WTO:

- Về mức độ tự do hoá: cơ bản là cao hơn mức cam kết gia nhập WTO của Việt Nam, khoảng 90% số dòng thuế (tính theo dòng thuế của kim ngạch nhập khẩu) với khung thời gian thực hiện cắt giảm xuống 0% trong vòng 10 năm.

- Về lộ trình cắt giảm thuế: Với AFTA, ACFTA và AKFTA việc giảm thuế sẽ được thực hiện theo lộ trình quy định cho các bước giảm thuế hàng năm.
II. Thực trạng hội nhập kinh tế thế giới của VN
C. Kết luận
Việc nghiên cứu hành vi khách hàng là một việc làm cần thiết. Nó giúp cho công ty hiểu rõ hơn vị trí sản phẩm của mình trên thị trường cũng như hiểu rõ hơn về tâm lí khách hàng. Kết quả của cuộc điều tra chính là một căn cứ để giúp công ty đưa ra những quyết định hiện tại cũng như trong tương lai.
Nhìn chung bột giặt OMO đã đạt được những kết quả đáng tự hào trong quá trình xây dựng thương hiệu. Sản phẩm OMO được khách hàng đánh giá cao hơn hẳn đối thủ cạnh tranh ở tất cả các mặt. Nhưng họ vẫn còn một số tồn tại chưa làm hài lòng người tiêu dùng. Chính nhờ cuộc điều tra nghiên cứu này công ty sẽ tìm ra những giải pháp tối ưu để đáp ứng nhu cầu và thị hiếu ngày càng cao của khách hàng.
Bài thảo luận
Môn: Đường lối cách mạng của ĐCS Việt Nam
Lớp : 1421RLCP0111
Gv hướng dẫn:
Nhóm: 11

A. LỜI MỞ ĐẦU
B. Cơ sở lý luận
I. Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam

II. Tính tất yếu của hội nhập kinh tế thế giới
- Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN ngày 25/7/1995.
- Việt Nam tham gia khu vực Thương mại Tự do ASEAN (AFTA) từ 1/1/1996.
- Tháng 11/1998 Việt Nam gia nhập Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC).
- Việt Nam gia nhập WTO vào ngày 7/11/2006.
- Tham gia cá tổ chức khu vực khác như: ASEM, ASEAN+3,...

Đề tài:
C. Những đóng góp của ngành thương mại Việt Nam trong quá trình hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới:
I. Quá trình hội nhập kinh tế thế giới của VN
II. Thực trạng hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam

a. Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế
b. Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
c. Hội nhập kinh tế quốc tế ở VN
2.1. Việt Nam đang tích cực tham gia và phát huy vai trò thành viên trong các tổ chức kinh tế quốc tế.
Trong khuôn khổ WTO:
- Việt Nam đã tiến hành nhiều cải cách chính sách thương mại theo hướng minh bạch và tự do hóa hơn
- Thực hiện đúng các cam kết đa phương và các cam kết mở cửa thị trường hàng hoá, dịch vụ cũng như các biện pháp cải cách đồng bộ
- Cố gắng tham gia tích cực các cuộc đàm phán trong khuôn khổ WTO ở các nội dung có liên quan đến Việt Nam

Trong khuôn khổ ASEAN:
- Sau 18 năm tham gia ASEAN, mối quan hệ hợp tác khu vực giữa Việt Nam với ASEAN ngày càng phát triển toàn diện và có tác động sâu sắc tới đời sống kinh tế, xã hội và chính trị.
- Việc thực hiện các cam kết hội nhập sâu rộng nhằm xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 đã đóng góp thiết thực cho việc cải thiện môi trường luật pháp trong nước, tạo thuận lợi cho sản xuất kinh doanh và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Việt Nam đã tích cực tham gia các chương trình hợp tác nhằm thực hiện Cộng đồng ASEAN vào năm 2015

Trong khuôn khổ APEC:
- Việt Nam đã thực hiện nghiêm túc các cam kết hợp tác của APEC như Báo cáo về Chương trình Hành động Quốc gia hàng năm, thực hiện Chương trình Hành động tập thể, ...
- Đảm nhận vị trí Chủ tịch và điều hành nhiều Nhóm công tác quan trọng như Nhóm Công tác Y tế nhiệm kỳ 2009 - 2010, Nhóm công tác về Đối phó với tình trạng khẩn cấp, ...
Tiến trình đàm phán và ký kết các FTA của Việt Nam đã được khởi động và triển khai cùng với tiến trình gia nhập các tổ chức quốc tế và khu vực. Đến nay, Việt Nam đã tham gia thiết lập FTA với 15 nước trong khung khổ của 6 FTA khu vực, bao gồm:
- Việt Nam cam kết ràng buộc với toàn bộ Biểu thuế nhập khẩu hiện hành gồm 10.600 dòng thuế.

- Thuế suất cam kết cuối cùng có mức bình quân giảm đi 23% (từ 17,4% xuống 14%).

- Trong toàn bộ Biểu cam kết, Việt Nam cắt giảm thuế với khoảng 3.800 dòng thuế
Cam kết thuế quan của Việt Nam trong FTA Việt Nam – Chi Lê:
- Việt Nam cam kết xoá bỏ thuế quan đối với 87,8% số dòng thuế trong biểu thuế nhập khẩu hiện hành trong vòng 15 năm .

- Trong 12,2% số dòng thuế còn lại có 4,08% số dòng thuế thuộc danh mục loại trừ (không tham gia giảm, xoá bỏ thuế), 3,37% số dòng thuế được giữ nguyên thuế suất cơ sở và 4,75% số dòng thuế được giảm thuế một phần.
Cam kết thuế quan của Việt Nam trong các FTA khu vực:
2.4. Việt Nam đã và đang gặt hái được những thành tựu trong việc tự do hoá thương mại và mở cửa thị trường
- Thời kỳ 2001-2010, tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa bình quân 17,42%, cao hơn 2,42% so với chỉ tiêu đề ra tại Chiến lược phát triển xuất khẩu 2001-2010.
- Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001-2010 đã có sự chuyển dịch khá tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng nhóm hàng chế biến và giảm dần hàng xuất khẩu thô
- Thị trường ngoài nước ngày càng mở rộng, đa dạng. Số lượng thị trường xuất khẩu đã tăng gấp hơn 1,4 lần sau 10 năm (từ 160 lên 230)
1. Thuận lợi
- Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế sẽ khắc phục được tình trạng bị phân biệt đối xử trong buôn bán quốc tế.
- Nâng cao khả năng cạnh tranh và tính hiệu quả trong nền kinh tế, đồng thời tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp Việt Nam.
- Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ tạo điều kiện mở rộng thị phần quốc tế cho các sản phẩm Việt Nam và thúc đẩy thương mại phát triển.

- Việt Nam sẽ có lợi từ việc cải thiện hệ thống giải quyết tranh chấp khi có quan hệ với các cường quốc thương mại chính.
- Việt Nam sẽ có điều kiện thu hút vốn, kinh nghiệm quản lý và công nghệ mới… của nước ngoài. Nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, chiếm gần 30% vốn đầu tư xã hội, 35% giá trị sản xuất công nghiệp, 20% xuất khẩu và giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động.
2. Khó khăn
- Cạnh tranh trở nên quyết liệt hơn. Cạnh tranh không chỉ giữa doanh nghiệp nước ta với doanh nghiệp các nước trên thị trường nước ngoài để xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ mà cạnh tranh ngay trên thị trường trong nước.
- Hội nhập kinh tế quốc tế với sự chuyển dịch tự do qua biên giới các yếu tố của quá trình tái sản xuất hàng hóa và dịch vụ tiềm ẩn nhiều rủi ro, trong đó có cả những rủi ro về mặt xã hội.
- Đặt ra những yêu cầu hết sức cấp bách cho việc bổ sung và hoàn thiện thể chế.

- Để bảo đảm tiến trình hội nhập đạt hiệu quả, bên cạnh quyết tâm về chủ trương, cần phải có một đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước và đội ngũ doanh nhân đủ mạnh. Đây cũng là một thách thức to lớn đối với Việt Nam do phần đông cán bộ của ta còn bị hạn chế về kinh nghiệm điều hành nền kinh tế mở, có sự tham gia của yếu tố nước ngoài.

- Dẫn đến sự hợp tác về an ninh và văn hóa. Đồng thời, việc mở cửa thị trường, mở rộng giao lưu trong điều kiện bùng nổ thông tin hiện nay, bên cạnh nhiều mặt tốt, những cái xấu cũng du nhập vào.
- Đã làm bộc lộ nhiều bất cập của nền hành chính quốc gia.
III. Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong quá trình hội nhập
1. Tăng cường đổi mới kinh tế trong nước và vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước:
Đổi mới bên trong và hội nhập là hai quá trình gắn bó chặt chẽ với nhau, hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau. Để hội nhập đạt được kết quả tích cực, cần tiếp tục đẩy mạnh quá trình đổi mới, cải cách thị trường theo những nội dung chủ yếu sau:
- Thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thị trường, đặc biệt quan tâm đến các thị trường quan trọng nhưng hiện chưa có hoặc còn sơ khai như thị trường lao động, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, thị trường khoa học - công nghệ.
- Hình thành đồng bộ cơ chế quản lý nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục những yếu kém hiện nay, gỡ bỏ những vướng mắc cản trở sự phát triển.
- Tiếp tục đổi mới các công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế. Cơ chế thị trường kết hợp với cơ chế kế hoạch, quy hoạch; tăng cường công tác thông tin kinh tế -xã hội trong nước và quốc tế, công tác thống kê; ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ trong công tác dự báo; kiểm tra tình hình thực hiện ở cả cấp vĩ mô và doanh nghiệp.
2. Cải thiện chính sách đầu tư gắn với điều chỉnh cơ cấu kinh tế:
- Đầu tư và tích tụ vốn có ý nghĩa quyết định đối với đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. Đối với một nước có trình độ phát triển thấp, đầu tư tư nhân còn yếu và cơ cấu sản xuất chưa phát triển đa dạng như Việt Nam, theo kinh nghiệm quốc tế, mức đầu tư trong nước phải cao hơn mức tích lũy nội bộ 25% GDP của ta hiện nay.
- Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư cần phải dựa trên việc phát huy các thế mạnh, các lợi thế so sánh quốc tế của đất nước
3. Đẩy mạnh cải cách các doanh nghiệp nhà nước theo hướng nâng cao tính chủ động, hiệu quả và khả năng cạnh tranh:
4. Giải quyết vấn đề mất việc làm và thay đổi ngành nghề của người lao động
Nhà nước cần chủ động có chính sách và biện pháp thích hợp giải quyết vấn đề mất việc làm bằng việc hỗ trợ cho sự hình thành mạng lưới an sinh xã hội nhằm giải quyết các nhu cầu của những người không có khả năng tự lo cho mình và có các chương trình đầu tư xã hội để giúp mọi người được đào tạo những kỹ năng cần phải có trong một nền kinh tế hiện đại.
5. Tăng cường cải cách hành chính
Những tồn tại trên trong cải cách hành chính đã làm tăng các chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh, gây ảnh hưởng tiêu cực tới khả năng cạnh tranh và hội nhập quốc tế của các doanh nghiệp và nền kinh tế quốc gia. Một trong những yêu cầu quan trọng cấp thiết hiện nay đối với nước ta là tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính:
- Thực hiện triệt để việc tách chức năng quản lý hành chính nhà nước (hành chính công quyền) với hoạt động sản xuất kinh doanh và sự nghiệp;
- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế, tạo cơ sở pháp lý để xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, giải phóng và phát triển sản xuất, tháo gỡ khó khăn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tạo khung pháp lý phù hợp với luật lệ quốc tế, bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng, hạn chế và kiểm soát độc quyền kinh doanh.
- Tổ chức bộ máy hành chính nhà nước cần được cải cách trên cơ sở phân công, phân cấp rõ ràng cụ thể về thẩm quyền, trách nhiệm; tinh giản, kiện toàn tổ chức theo mô hình quản lý nhà nước đa ngành, đa lĩnh vực bao quát trong phạm vi cả nước đối với tất cả các thành phần kinh tế; cải tiến phương thức hoạt động, sự chỉ đạo của các cơ quan nhà nước để nâng cao chất lượng, hiệu quả và đáp ứng những biến động của cơ chế thị trường và những thách thức của quá trình hội nhập
- Xây dựng và hoàn chỉnh thể chế, hệ thống văn bản tiêu chuẩn nghiệp vụ, làm cơ sở pháp lý và khoa học cho việc xây dựng, quản lý đội ngũ cán bộ, công chức theo tinh thần của chiến lược cán bộ trong thời kỳ mới.
- Cải cách tài chính công trên cơ sở phân cấp mới theo luật định, nguyên tắc công khai, minh bạch trong thu chi.
KẾT LUẬN
Từ khi chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nước ta đã mở rộng hợp tác quan hệ với nhiều nước trên thế giới, mức tăng trưởng những năm gần đây thuộc diện cao.

Tuy nhiên trong quá trình áp dụng phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta cũng cần phải xem xét lại một số vấn đề đáng quan tâm mà ngành thương mại cần phải điều chỉnh.
- Thương mại đã ra đời rất lâu và nó đã tồn tại qua các phương thức sản xuất xã hội.
- Hoạt động thương mại vừu chịu sự chi phối của các quy luật của nền sản xuất hàng hoá, vừa chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế vốn có của mỗi chế độ xã hội – Chính trị mà ngành thương mại đang hoạt động.
Full transcript