Loading presentation...

Present Remotely

Send the link below via email or IM

Copy

Present to your audience

Start remote presentation

  • Invited audience members will follow you as you navigate and present
  • People invited to a presentation do not need a Prezi account
  • This link expires 10 minutes after you close the presentation
  • A maximum of 30 users can follow your presentation
  • Learn more about this feature in our knowledge base article

Do you really want to delete this prezi?

Neither you, nor the coeditors you shared it with will be able to recover it again.

DeleteCancel

Make your likes visible on Facebook?

Connect your Facebook account to Prezi and let your likes appear on your timeline.
You can change this under Settings & Account at any time.

No, thanks

Copy of CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NGÀY NAY VÀ NHỮNG BIỂU HIỆN MỚI CỦA NÓ

No description
by

Nhung Nguyễn

on 5 April 2015

Comments (0)

Please log in to add your comment.

Report abuse

Transcript of Copy of CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NGÀY NAY VÀ NHỮNG BIỂU HIỆN MỚI CỦA NÓ

CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NGÀY NAY VÀ NHỮNG BIỂU HIỆN MỚI CỦA NÓ
design by Dóri Sirály for Prezi
- Chủ nghĩa tư bản ngày nay (hay Chủ nghĩa tư bản hiện đại) là một nấc thang trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản độc quyền.
- Ở đây chủ nghĩa tư bản hiện đại đã phản ánh một giai đoạn đoạn mới về chất trong lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản. Đó là giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước với nhiều đặc trưng mới.

Chủ nghĩa tư bản hiện đại có sự biến đổi cả về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
- Về lực lượng sản xuất: tính chất xã hội hóa cao, biểu hiện ở tính quốc tế và trình độ hiện đại của lực lượng sản xuất trên cơ sơ áp dụng những thành tựu của cách mạng khoa học – công nghệ.
- Về quan hệ sản xuất: thích ứng với phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ này của chủ nghĩa tư bản hiện đại đã có hình thực vận động mới biểu hiện ở sự biến đổi của hình thái sỡ hữu, quản lý và phân phối.
Chủ nghĩa tư bản hiện đại là chủ nghĩa tư bản độc quyền, tức là độc quyền vẫn là hình thái vận động mới của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa song đã có sự phát triển lên một nấc thang mới và có tính quốc tế.
Những đặc trưng của chủ nghĩa tư bản hiện đại, chỉ là sự phát triển kế tiếp những đặc trưng kinh tế vốn có của chủ nghĩa tư bản, nó hoàn toàn không phải là những đăch trưng mới “phi tư bản”.
Nói như nhà kinh tế học nổi tiếng của các nước tư bản F.Caron: “ Nền tảng kinh tế chúng ta đã không thay đổi, đó luôn luôn là chủ nghĩa tư bản không có một sự biến đổi về bản chất mà chắc chắn đó là sự biến đổi về kích thước”.
Sự phân tích những đặc trưng kinh tế của chủ nghĩa tư bản ngày nay đã làm bộc lộ tiềm năng phát triển và sẽ tiếp tục phát triển nhưng cũng bộc lộ những giới hạn phát triển của chủ nghĩa tư bản nằm ngay trong bản chất của độc quyền của chủ nghĩa tư bản.
Kết Luận:
1. Những biểu hiện mới trong đặc điểm của chủ nghĩa tư bản độc quyền
2. Những biểu hiện mới trong cơ chế điều tiết kinh tế của CNTB độc quyền nhà nước
3. Những nét mới trong sự phát triển của CNTB hiện đại
a. Tập trung sản xuất và hình thức độc quyền mới: Sự xuất hiện những công ty độc quyền xuyên quốc gia bên cạnh sự xuất hiện của những xí nghiệp vừa và nhỏ.
Trong khi đó thì các công ty xuyên quốc gia nhạy cảm, thích ứng với thay đổi trong sản xuất, linh hoạt ứng phó với tình hình biến động của thị trường, mạnh dạn trong việc đầu tư vào những ngành mới đòi hỏi sự mạo hiểm, kể cả những ngành lúc đầu ít lợi nhuận và những ngành đáp ứng nhu cầu cá biệt. Các công ty xuyên quốc gia có vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu.
Ví dụ: Công ty GMC của Mỹ năm 1992 có doanh số 132 tỷ, sử dụng gần 1 triệu lao động, 136 chi nhánh ở hơn 100 nước trên thế giới.
- Nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ là do:
•Ứng dụng các thành tựu của khoa học và công nghệ làm tiêu chuẩn hóa và chuyên môn hóa sản xuất ngày càng sâu rộng, dẫn đến hình thành hệ thống gia công, nhất là những ngành sản xuất ô tô, máy bay, đồ trang sức, dệt, cơ khí, …
•Do những ưu thế của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong cơ chế thị trường:
+ Ứng phó linh hoạt với biến động của thị trường.
+ Mạnh dạn đầu tư vào những ngành mạo hiểm, có lơi.
+ Dễ dàng đổi mới trang thiết bị mà không cần bổ sung lớn.
b.Sự thay đổi trong các hình thức tổ chức và cơ chế thống trị của tư bản tài chính
Ví dụ: Ngân hàng cho tư bản công nghiệp vay vốn và đảm bảo tín dụng cho nó kinh doanh, có lợi cùng hưởng, thất bại, rủi ro cùng chia sẻ. Hoặc ngân hàng mua sắm các phương tiện sản xuất hiện đại, đắt tiền rồi cho các doanh nghiệp thuê và gọi là cho thuê tài chính, như máy móc, hệ thống vi tính,…
c.Xuất khẩu tư bản vẫn là cơ sở của độc quyền quốc tế sau chiến tranh, nhưng quy mô, chiều hướng và kết cấu của việc xuất khẩu tư bản đã có bước phát triển mới.
- Chiều hướng xuất khẩu tư bản cũng có những thay đổi rõ rệt:
+ Trước kia, luồng tư bản xuất khẩu chủ yếu từ các nước tư bản chủ nghĩa phát triển sang các nước kém phát triển ( khoảng 70%).
+ Nhưng từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, đặc biệt sau những năm 70 của thế kỷ XX, 3/4 tư bản xuất khẩu được đầu tư vào các nước phát triển, mở đầu bằng việc tư bản quay trở lại Tây Âu.
+ Từ đầu những năm 70, đại bộ phận dòng tư bản lại chảy qua chảy lại giữa các nước tư bản chủ nghĩa phát triển với nhau.
Nguyên nhân chủ yếu của sự chuyển hướng đầu tư nói trên là:
-Về phía các nước đang phát triển, phần lớn những nước này ở trong tình hình chính trị thiếu ổn định; thiếu môi trường đầu tư an toàn và thuận lợi; thiếu đội ngũ chuyên gia, cán bộ khoa học – kỹ thuật, công nhân lành nghề; trình độ dân trí thấp và tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế quốc dân ít, không đủ mức cần thiết để tiếp nhận đầu tư nước ngoài.
-Về các nước tư bản chủ nghĩa phát triển, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ làm xuất hiện nhiều ngành sản xuất và dịch vụ mới, nhất là những ngành có hàm lượng khoa học cao, đòi hỏi lượng vốn lớn để đầu tư vào nghiên cứu khoa học – kỹ thuật và sản xuất.
d.Sự phân chia thế giới giữa các liên minh của chủ nghĩa tư bản: xu hướng quốc tế hoá, toàn cầu hoá ngày càng tăng bên cạnh xu hướng khu vực hoá nền kinh tế.
e.Sự phân chia thế giới giữa các cường quốc vẫn tiếp tục dưới những hình thức cạnh tranh và thống trị mới.
-Chiến tranh lạnh kết thúc, nguy cơ chiến tranh thế giới bị đẩy lùi, nhưng lại được thay thế bằng những cuộc chiến tranh khu vực, chiến tranh thương mại, những cuộc chiến tranh sắc tộc, tôn giáo mà đứng trong hoặc núp sau các cuộc đụng độ đó là các cường quốc đế quốc.
Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước có những biểu hiện mới sau đây:
-Tỷ trọng của kinh tế thuộc nhà nước trong nền kinh tế quốc dân được nâng lên rõ rệt, nó vừa bao gồm các xí nghiệp thuộc nhà nước trong các ngành sản xuất vật chất, vừa bao gồm các tổ chức tài chính thuộc ngân hàng, ngành kinh tế thứ ba ( dịch vụ), cùng những công trình cơ sở hạ tầng xã hội mới xây dựng do nhà nước tư bản chủ nghĩa đầu tư.
-Kinh tế thuộc nhà nước và tư nhân kết hợp tăng lên mạnh mẽ.
Năm 1979, trong 40 công ty công nghiệp lớn nhất của Tây Âu có 7 công ty hỗn hợp vốn giữa nhà nước và tư nhân, trong đó vốn nhà nước chiếm khoảng một nửa. Trong công ty dầu lửa của Mỹ, cổ phần do Chính phủ nắm là 46 %. ở Cộng hoà Liên bang Đức đã có 1000 xí nghiệp thuộc nhà nước và tư nhân kết hợp.
-Chi tiêu tài chính của các nhà tư bản phát triển dùng để điều tiết quá trình tái sản xuất xã hội tăng lên nhiều. Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, khoản chi phí này chiếm khoảng 10% tỷ trọng tổng giá trị sản phẩm quốc dân. Đến đầu những năm 80, khoản chi phí này đã chiếm hơn 30%, cá biệt có nước vượt quá 50%.
-Phương thức điều tiết của nhà nước linh hoạt, mềm dẻo hơn với phạm vi rộng hơn.
Phương thức điều tiết của nhà nước cũng thay đổi một cách linh hoạt, mềm dẻo hơn hết, kết hợp điều tiết tình thế với điều tiết dài hạn. Các công cụ và phạm vi điều tiết của nhà nước cũng đa dạng và mở rộng hơn:
- Điều tiết bằng chương trình và kế hoạch.
- Điều tiết cơ cấu kinh tế bằng quan hệ thị trường thông qua hợp đồng, đồng thời hỗ trợ những ngành truyền thống cần được tiếp tục duy trì và những ngành mũi nhon với công nghệ cao.
- Điều tiết tiến bộ khoa học và công nghệ bằng tăng chi ngân sách cho nghiên cứu và phát triển ( Recearch and Development - R & D) tăng tài trợ cho nghiên cứu ứng dụng của các công ty tư nhân, đề xuất những hướng ưu tiên nghiên cứu khoa học hoặc mua công nghệ của nước ngoài.
- Điều tiết thị trường lao động.
- Điều tiết thị trường tài chính, tiền tệ, chống lạm phát, điều tiết giá cả.
- Điều tiết các quan hệ kinh tế đối ngoại, hệ thống tài chính – tiền tệ quốc tế…
a.Sự phát triển nhảy vọt về lực lượng sản xuất
-Thứ nhất, cách mạng công nghệ thông tin (IT) và công nghệ cao phát triển mạnh mẽ.
-Thứ hai, giáo dục tăng cường và tố chất của người lao động được nâng cao rõ rệt, đặt nền móng vững chắc cho việc nâng cao năng suất lao động và sức cạnh tranh.

Vd: thời gian được giáo dục học tập của công nhân Mĩ từ 10.6 năm của năm 1948 đã tăng lên 14 năm của năm 1999; trong cùng thời gian này tỉ lệ trên đại học của người dân trên 25 tuổi từ 14% tăng lên 50%. Tăng cường giáo dục đạo tạo làm cho tố chất của công nhân được nâng cao, từ đó đặt nền móng vững chắc cho việc nâng cao năng suất lao động và sức cạnh tranh.
-Thứ ba, kinh tế tăng trưởng nhanh, năng suất lao động được nâng cao hơn. Thành quả khoa học kĩ thuật nhanh chóng chuyển hóa vào sản xuất kinh doanh.
b.Nền kinh tế đang có xu hướng chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế trí thức
-Định nghĩa nền kinh tế tri thức: nền kinh tế tri thức còn gọi là nền kinh tế dựa vào tri thức ( KBE – Knowledge - Based Ecomony ) là nền kinh tế chủ yếu dựa vào tri thức, trên cơ sở phát triển khoa học và công nghệ cao.
Các ngành trong kinh tế tri thức:
-Cách mạng IT hiện nay đang thúc đẩy nền kinh tế TBCN chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức. Điều này thê hiện ở chổ:
+ Thứ nhất, vai trò của tri thức và kĩ thuật đã cao hơn các yếu tố như nguồn tài nguyên tự nhiên và vốn, trở thành yếu tố quan trọng nhất.
+ Thứ hai, vận hành của kinh tế tri thức chủ yếu không còn do lao động cơ bắp thao tác máy móc, mà chủ yếu do những người lao động trí óc trong các ngành thiết kế, nghiên cứu phát triển cũng như truyền bá tri thức thúc đẩy.
+ Thứ ba, nâng cao tầm quan trọng của tri thức, biểu hiện ở chổ tăng trưởng của tư bản vô hình (giáo dục, nghiên cứu, khai thác,… ) cao hơn tư bản hữu hình (xây dựng, máy móc), hàm lượng tri thức tăng lên trong sản phẩm và dịch vụ.
+ Thứ tư, sáng tạo kĩ thuật và sáng tạo cơ chế đóng vai trò then chốt trong phát triển kinh tế tri thức.
+ Thứ năm, cùng với sự chuyển đổi loại hình kinh tế, kết cấu ngành nghề của CNTB cũng được điều chỉnh và nâng cấp hơn, chuyển sang dịch vụ hóa và công nghệ cao hóa.
c. Sự điều chỉnh về quan hệ sản xuất và quan hệ giai cấp
-Thứ nhất, quan hệ sở hữu cũng có những thay đổi, biểu hiện nổi bật là sự phân tán quyền nắm cổ phiếu tăng lên.
-Thứ hai, kết cấu giai cấp cũng đã có những biến đổi lớn, các giai cấp, tầng lớp, đoàn thể xã hội và tập đoàn cùng tồn tại và tác động lẫn nhau. Nổi bật nhất là sự xuất hiện của tầng lớp trung lưu ( hay còn gọi là giai cấp trung sản ).
-Thứ ba, cùng với sự tăng trưởng của sản xuất và sự điều chỉnh về QHSX, thu nhập bằng tiền lương của người lao động cũng có được mức lương tăng trưởng khá lớn.
d. Thể chế quản lý kinh doanh trong nội bộ doanh nghiệp có những biến đổi lớn
- Thứ nhất, doanh nghiệp cải cách cơ chế quản lí, thiết lập cơ cấu tổ chức hàng ngang và mạng lưới. Phương hướng cải cách là xóa bỏ hệ thống kiểu kim tự tháp truyền thống.
- Thứ hai, dùng công nghệ cao cải cách cơ chế quản lý sản xuất. Để thích ứng với những thay đổi từ thể chế sản xuất theo “đơn đặt hàng”, doanh nghiệp thiết lập hệ thống sản xuất, linh hoạt, hệ thống sản xuất bằng máy tính, chế độ cung cấp thích hợp và cơ chế phát triển theo nhu cầu.
- Ngoài ra:
+Quản lý người lao động không chỉ chú ý thể lực mà cả kĩ năng và tri thức não ( định hướng XHCN coi người lao động và là đối tượng lao động và là đối tượng nhân văn).
+Hình thức doanh nghiệp đan xen lớn và nhỏ hóa phát triển mạnh làm cho KT CNTB có sức sống và có hiệu quả cao.
e.Điều tiết vĩ mô của nhà nước ngày càng được tăng cường
Phương thức điều tiết kinh tế của nhà nước tư bản hiện nay:
- Thứ nhất, kịp thời điều chỉnh chiến lược tổng thể phát triển kinh tế, nhằm nâng cao sức cạnh tranh tổng thế của quốc gia.
- Thứ hai, sự lựa chọn chính sách thực dụng.
- Thứ ba, vận dụng linh hoạt các chính sách tài chính, tiền tệ, kịp thời điều chỉnh mâu thuẫn cung cầu trong xã hội và mâu thuẫn giữa các tầng lớp xã hội.
f. Các công ty độc quyền xuyên quốc gia có vai trò ngày càng quan trọng trong hệ thống kinh tế TBCN , là lực lượng chủ yếu thúc đẩy toàn cầu hóa kinh tế
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
•Tích cực:
+ Thúc đẩy phân công lao động.
+ Chuyển giao khoa học công nghệ.
+ Mở rộng thị trường mang tính toàn cầu.
+ Các TNC cạnh tranh với nhau và có ảnh hưởng lớn tới toàn thế giới.
•Tiêu cực:
+ Làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, tác động tới môi trường.
+ Gây khó khăn cho các doanh nghiệp lục địa.
+ Lạm dụng lao động quá mức.
+ Gây áp lực chính trị lên các chính phủ.
+ Thao túng lĩnh vực tài chính tiền tệ.
g. Điều tiết và phối hợp quốc tế tăng cường
-Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, nhà nước của các quốc gia tư bản chủ nghĩa ngày càng chú trọng kết hợp chính sách vĩ mô.
-Như sự phối hợp giữa các nước tư bản về chính sách tài chính, tiền tệ sau “ sự kiện 11-09-2001”, sự phối hợp giữa Mỹ, EU và Nhật Bản để tìm lối thoát khỏi khủng hoảng tài chính tiền tệ trên quy mô toàn cầu năm 2008.

-Vai trò của các tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế ngày càng nổi bật khi điều tiết quan hệ kinh tế quốc tế và trở thành một trong những chủ thể mới điều tiết quan hệ kinh tế tư bản chủ nghĩa.
Full transcript