Loading presentation...

Present Remotely

Send the link below via email or IM

Copy

Present to your audience

Start remote presentation

  • Invited audience members will follow you as you navigate and present
  • People invited to a presentation do not need a Prezi account
  • This link expires 10 minutes after you close the presentation
  • A maximum of 30 users can follow your presentation
  • Learn more about this feature in our knowledge base article

Do you really want to delete this prezi?

Neither you, nor the coeditors you shared it with will be able to recover it again.

DeleteCancel

Make your likes visible on Facebook?

Connect your Facebook account to Prezi and let your likes appear on your timeline.
You can change this under Settings & Account at any time.

No, thanks

Copy of BÀI THUYẾT TRÌNH NHÓM 2

XÃ HỘI HÓA VÀ SỰ HÌNH THÀNH CÁI TÔI
by

Dafu Lei

on 19 March 2014

Comments (0)

Please log in to add your comment.

Report abuse

Transcript of Copy of BÀI THUYẾT TRÌNH NHÓM 2

SỰ ĐIỀU TIẾT XÃ HỘI QUI TẮC, GIÁ TRỊ, CHUẨN MỰC VÀ CHẾ TÀI
BÀI THUYẾT TRÌNH NHÓM 2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHXH&NV
XÃ HỘI HỌC ĐẠI CƯƠNG
Giảng Viên :
1. Khái niệm xã hội hóa:
Trước hết, thuật ngữ xã hội hoá trong khoa học xã hội nói chung, xã hội học nói riêng không đồng nhất với khái niệm xã hội hoá đang được sử dụng phổ biến ở Việt Nam hiện nay như xã hội hoá các hoạt động văn hoá, giáo dục, y tế, hay thể thao v.v. (vốn được xem là sự huy động các nguồn lực, sự tham gia của các tầng lớp xã hội trong các lĩnh vực hoạt động trên).
==> Khái niệm Xã hội hóa:
Quá trình hình thành ý thức trong cách ứng xử của con người được gọi là quá trình xã hội hóa.
Dạy
Xã hội hoá cũng được xem là sự chuyển giao văn hoá giữa các thế hệ, và là cách thức mà các cá nhân trở thành thành viên của một xã hội, thể hiện những trải nghiệm của mình và xử sự theo những hành vi mà họ được học trong nền văn hoá của xã hội mà họ sống.
Học
Xã hội hoá là quá trình tiếp nhận nền văn hóa của xã hội nhờ đó chúng ta học được cách suy nghĩ và ứng xử được coi là thích hợp trong xã hội
2. Các giai đoạn của quá trình xã hội hoá:
Ranh giới giữa các giai đoạn không phải lúc nào cũng rõ ràng mà chỉ mang tính ước lệ.
1. Giai đoạn xã hội hoá ban đầu trong gia đình
2. Giai đoạn xã hội hoá diễn ra trong nhà trường:
3. Giai đoạn con người thực sự bước vào xã hội:
•Có ba
giai đoạn
chính trong
quá trình xã hội hoá
:
Môi trường gia đình là môi trường xã hội hóa quan trọng bậc nhất của cá nhân. Có thể xem gia đình như một tiểu văn hóa, với nền giáo dục, lối sống, truyền thống của gia đình, v.v.. mà cá nhân sẽ tiếp nhận các đặc điểm này.

Dưới mái trường, trẻ con được học tập và vui chơi và dần dần trở thành một con người của xã hội thông qua hoạt động thu nhận những kiến thức ban đầu về ý thức trách nhiệm và xã hội,
thông qua giao tiếp và dần dần hình thành các mối quan hệ xã hội.
Cá nhân tham gia vào xã hội thường dưới dạng thành viên của nhóm (từ nhóm sinh viên, đồng nghiệp, nhóm nghiên cứu, sáng tác,... đến thành viên của các hội đoàn, các tổ chức chính thống của xã hội). Lúc này, quá trình xã hội hóa của cá nhân được thể hiện thông qua các
chuẩn mực chính thức (của xã hội) hay không chính thức (của nhóm).

- Các giai đoạn của xã hội hóa không hề bị gián đoạn mà có sự đan xen nhất định.
==>
II.SỰ HÌNH THÀNH CÁI TÔI CỦA CÁ NHÂN:
Lý thuyết về đạo đức
1. Cơ sở hình thành cái tôi của con người:
Thông qua quá trình xã hội hóa, mỗi cá nhân dần dần nhập tâm những giá trị và chuẩn mực xã hội và dần dần biến chúng thành
những

giá trị chuẩn mực của riêng mình.

Sự cá nhân hóa các giá trị chân lý, xã hội và qui tắc ứng xử để biến con người thành chủ thể xã hội này chính là quá trình hình thành “cái tôi” của con người, hay nói cách khác,
“cái tôi” chính là kết quả của quá trình xã hội hóa.

Theo Talcot Parsons (1954), ứng xử của con người thường dựa trên 4 cấp độ:
Cấp độ văn hóa
Cấp độ xã hội
Cấp độ nhân cách
Cấp độ cá nhân
Người ta thường đề cập đến “Cái tôi” nhằm nói kinh nghiệm của các cá nhân trong quá trình xã hội hóa cũng như những đặc trưng nhân cách của cá nhân ấy trong quá trình tương tác xã hội.
Bốn cấp độ trên đều thuộc khía cạnh ứng xử của con người, và qua quá trình xã hội hóa, con người sẽ không ngừng học tập, cải thiện mình để lĩnh hội được những kỳ vọng đối với hành vi và giá trị mà xã hội đó thừa nhận.

Tuy nhiên, sự kiểm soát của xã hội bằng các chế tài chỉ là từ bên ngoài (ngọai tại), các thành viên trong xã hội luôn tự tìm cách điều chỉnh hành vi của mình để phù hợp với những phản ứng đã được trù liệu trước.

Lý thuyết sinh học xã hội

Cho rằng những yếu tố di truyền đóng vai trò quyết định hành động con người, ví dụ như quan điểm về phân loại chủng tộc cho rằng sự khác biệt chủng tộc quyết định sự khác biệt trong trí lực, sức kkhỏe của con người và vì vậy có người thông minh, có người ngu đần.
Những quan điểm này dễ dàng bị bác bỏ bằng phát triển phản xạ có điều kiện, và những nghiên cứu về lí thuyết hành vi cho thấy quá trình xã hội hóa mới là quan trọng (ví dụ: những đứa trẻ bị cô lập không phát triển bình thường được), yếu tố sinh vật chỉ đóng vai trò là điều kiện cần nhưng chưa đủ quyết định hành vi của con người.

Lý thuyết Freud
Ths.Trần Thị Bích Liên
Lý thuyết tương tác biểu tượng về sự hình thành cái tôi
Cái tôi trong gương
Cảm ơn sự chú ý lắng nghe của cô và các bạn !!
Một số lí thuyết về sự hình thành cái tôi
- Lý thuyết sinh học xã hội

- Lý thuyết hình thành nhân cách theo lứa tuổi

- Lý thuyết Freud

- Lý thuyết về đạo đức

- Lý thuyết tương tác biểu tượng về sự hình thành cái tôi (George Herbert Mead khởi xướng năm 1934)

- Trong khuôn khổ của lý thuyết tương tác biểu tượng, G. Mead còn đề ra những khái niệm về “những người khác nói chung”, và “những người khác có ý nghĩa”




Jean Piaget (1896-1980): quá trình hình thành nhân cách của con người trải qua 4 giai đoạn:
Giai đọan cảm giác (0-2 tuổi), nhận thức thị giác bằng các giác quan qua tiếp xúc mang tính vật chất;

Giai đoạn tiền thao tác (2-7 tuổi), nhận thức thông qua biểu tượng và ngôn ngữ, đứa trẻ phân biệt tư tưởng và thực tại khách quan bằng cách cho mình là trung tâm;
Giai đoạn thao tác cụ thể (7-11 tuổi), bắt đầu lý luận nhưng dựa vào những tình huống cụ thể chứ chưa nâng lên mức trừu tượng;
Giai đoạn lý luận hình thức (11 tuổi trở lên), có tư duy trừu tượng cao, có thể hình dung khả năng của thực tế

1. Cá nhân thực hiện hành vi và được mọi người xung quan quan sát và phản ứng lại,

2. Cá nhân tiếp nhận và lý giải những phản ứng của người khác đối với ứng xử của mình,
3. Sau đó, cá nhân phản ứng lại với những đánh giá của những người khác bằng sự kiêu hãnh hay xấu hổ

Team number 2
everybody
Hay, quá trình xã hội hóa là quá trình mà trong đó chúng ta có thể tiếp nhận nền văn hóa của xã hội, có thể học được cách suy nghĩ và ứng xử hợp với đặc trưng của xã hội.

XÃ HỘI HÓA
Trong quá trình xã hội hóa, cá nhân thu thập kinh nghiệm xã hội và học các chuẩn mực, khuôn mẫu một cách tự nhiên mà không chống đối lại được.
Xã hội hóa vừa là một quá trình dạy vừa là một qúa trình học tập, trong đó cá nhân thực hiện cách hành động phù hợp với các giá trị chuẩn mực xã hội (cụ thể).

Quá trình xã hội hóa làm cho các cá nhân thay đổi.
Ý nghĩa của quá trình xã hội hóa
Cho phép xã hội tồn tại và luân chuyển nền văn hóa của mình từ thế hệ này qua thế hệ khác.

Nâng cao tính cố kết xã hội và nét đặc trưng giữa các nền văn hóa.

Chuyển từ con
người sinh học
sang
con người xã hội
.

Tuy nhiên, sự ảnh hưởng của gia đình thường là
không chính thức và không có chủ đích
, vì nó là sản phẩm của sự tương tác qua lại giữa những người sống gần gũi nhau về mặt tinh thần và thể chất. Sự tiếp thu trong giai đoạn đầu của quá trình xã hội hóa này không đơn thuần thông qua những lời răn dạy, mà còn
thông qua các hành vi của thành viên trong gia đình
.

Theo các nhà xã hội học, trường lớp không chỉ đơn thuần là cơ sở để truyền đạt kiến thức khoa học cơ bản về tự nhiên, văn hóa - kinh tế - xã hội làm nền tảng cho cuộc sống sau này, mà còn là các cơ quan xã hội chính yếu. Khi đứa trẻ đến trường, nó không chỉ học các kiến thức, mà
học cả những qui tắc và cách thức xác định hành vi.

Đây là một quá trình phức tạp và chồng chéo hơn nhiều so với hai giai đoạn trước (gia đình và nhà trường), và thường là một
quá trình liên tục và kéo dài đến suốt đời.
Khi đó, cá nhân thực hiện một lúc nhiều vai trò khác nhau trong các nhóm xã hội và trong toàn xã hội (làm chồng, vợ, viên chức…).

- Môi trường xã hội hóa không chỉ giới hạn trong gia đình
- Xã hội hóa là qúa trình vừa dạy – vừa học.

- 3 quá trình:
Gia đình
.............................Nhà trường
.................................................................Xã hội
-
2 khía cạnh:

+ Chính thức
+ Không chính thức

Xã hội hóa
Quan tâm đến quá trình cá nhân dần dần hoà nhập vào xã hội và duy trì văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác.

2. Sự phát triển của cái tôi
Sự phát triển của cái tôi, theo lý thuyết biểu tượng, là quá trình cá nhân học hỏi để đáp ứng lại các kì vọng của người khác về cách thức họ đánh giá bản thân và thể hiện mình.
Cái tôi mang tính phản chiếu và được Cooley (1922) mô tả thông qua hình tượng
cái tôi trong gương:
“cá nhân thực hiện hành vi nào đó và có thể tự quan sát hành vi của mình thông qua phản ứng của cá nhân khác, sau đó lí giải những đánh giá phản ứng đó về những hành vi của mình”.

Cái tôi được phát triển thông qua sự tác động qua lại với những người khác, được họ đánh giá, hướng dẫn.
Nhờ quá trình “cái tôi trong gương”, cá nhân hiểu được cái tôi của mình và phản ứng tương đối với những đánh giá (dù chính xác hay không), bằng sự xấu hổ hoặc giận dữ (khi nhận được những phản ứng tiêu cực), hoặc tự hào (khi nhận được phản ứng tích cực.
Những phản ứng của người khác là cơ sở cho sự đánh giá lại bản thân mình, và cũng là cơ sở để cá nhân ý thức về chính bản thân mình (cái tôi).

Lý thuyết hình thành nhân cách theo lứa tuổi
- Do Etik Emikson sáng lập (ông là học trò của Freud), chú ý đến quá trình học hỏi trong việc hình thành nhân cách con người.

-

Ông cho rằng sự hình thành cái tôi của con người là một quá trình xã hội, trong đó cá nhân lựa chọn và cố gắng bắt chước hành vi người lớn hoặc những người mình ngưỡng mộ (quá trình cố gắng đồng nhất hóa – Identification).


- Quá trình này kéo dài suốt cuộc đời của con người, nhưng những khía cạnh cơ bản nhất và quan trọng nhất được hình thành từ thời ấu thơ

Do Lowtence Kolbeng (học trò của Jean Piaget) sáng lập, chú ý quá trình hình thành nhân cách về mặt đạo đức, thông qua 3 giai đoạn:

- Giai đoạn tiền qui ước, trong đó hành vi đạo đức cá nhân chịu sự chi phối của các tiêu chuẩn chế tài (khen thưởng hay trừng phạt);

- Giai đọan qui ước, hiểu được cái đúng cái sai của luật lệ hay luật pháp;


- Giai đoạn hậu qui ước, cá nhân phân biệt được những qui chuẩn của luật pháp và các nguyên tắc đạo đức. Lí thuyết này bị phê phán là không chú trọng đến sự khác biệt giữa các nền văn hóa và khác biệt giới tính.
Đưa ra sự giải thích về cách thức cá nhân học tập để đáp ứng lại các kỳ vọng của người khác và cách thức họ tự đánh giá về bản thân mình mỗi khi bị phản ứng.


Cái tôi hình thành nhờ sự tương tác với người khác và nó quyết định cách thức hành động trong quan hệ xã hội.

Cái tôi vừa là chủ thể (vì là tác nhân của hành động), vừa là đối tượng (vì có thể nhìn chính mình qua phản ứng của người khác).
Quá trình này được phân tích thông qua khái niệm phản ứng “cái tôi trong gương”

“những người khác nói chung”, và “những người khác có ý nghĩa”
Khi cá nhân sống trong xã hội và được kì vọng một số vai trò nào đó.
Kết hợp những vai trò được kỳ vọng này được gọi là “những người khác nói chung”, theo đó khi cá nhân đóng một vai trò nào đó, cá nhân cũng coi mình như người khác
Tuy nhiên, đối với những người có khả năng tạo ra ảnh hưởng đối với hành vi của cá nhân (cha mẹ, anh chị, bản thân, thầy cô), cá nhân ý thức về những người này như là “những người khác có ý nghĩa”, và cố gắng làm điều gì đó để vừa lòng họ, mong muốn tuân theo lời khuyên hay hướng dẫn của họ, từ đó hình thành nhân cách

Liên quan đến những truyền thống, chẳng hạn như thiết chế hay các giá trị chuẩn mực

Liên quan đến tổ chức và bao hàm những khái niệm như nhóm, địa vị, vai trò…

Gắn liền với cái tôi và những khái niệm mô tả về cái tôi cũng những những kinh nghiệm cá nhân.
Liên hệ tới sinh vật sinh lý, cơ thể.

DANH SÁCH NHÓM 2
1. PHẠM NHƯ QUỲNH
2. HÀ NGUYỄN PHƯƠNG
3. NGUYỄN THỊ BÍCH LIỄU
5. TRẦN THANH TÙNG
4. LƯU HOÀNG THÚY LINH
6. LÊ ĐAN PHƯƠNG
8. ĐẶNG NGỌC ÁI NHI
7. NGUYỄN NGỌC TƯỜNG VI
9. NGUYỄN THỊ MINH THẢO
Mỗi một cộng đồng hay xã hội đều có những
quy tắc
, những
chuẩn mực
quy định rõ cách ứng xử phù hợp với toàn thể cộng đồng hay xã hội đó. Những điều được ngầm quy định này
ấn định những hành vi được chấp nhận bởi xã hội và chỉ ra cái đúng và cái sai
, theo quan điểm của cộng đồng. Do đó, những chuẩn mực này cũng
thể hiện đặc trưng của xã hội, cộng đồng đó.

Giá trị và chuẩn mực là yếu tố chủ đạo hướng dẫn cho con người
hiểu biết cách ứng xử xã hội, đánh giá được hành vi, ứng xử của mình. Từ đó, có hướng điều chỉnh cho phù hợp với cộng đồng hay xã hội. Nếu như một cá nhân nào đó không biết kiểm soát hành vi của mình, đi xa giá trị và chuẩn mực xã hội thì sẽ bị cộng đồng hay xã hội lên án, phản đối.
Full transcript