Loading presentation...

Present Remotely

Send the link below via email or IM

Copy

Present to your audience

Start remote presentation

  • Invited audience members will follow you as you navigate and present
  • People invited to a presentation do not need a Prezi account
  • This link expires 10 minutes after you close the presentation
  • A maximum of 30 users can follow your presentation
  • Learn more about this feature in our knowledge base article

Do you really want to delete this prezi?

Neither you, nor the coeditors you shared it with will be able to recover it again.

DeleteCancel

Make your likes visible on Facebook?

Connect your Facebook account to Prezi and let your likes appear on your timeline.
You can change this under Settings & Account at any time.

No, thanks

Thành tựu thơ nôm Nguyễn Trãi

No description
by

dao huu khanh

on 25 December 2014

Comments (0)

Please log in to add your comment.

Report abuse

Transcript of Thành tựu thơ nôm Nguyễn Trãi

II. Nội dung
Devices of Language
Format of "Ode to Memory"
I. Tác giả
No consistent rhyme scheme - ABABCCC, ABBACDCDEFFGH, etc.
Anthropomorphism: Memory is described as a bride ("When first she is wed") and as an artist ("Well hast thou done, great artist Memory").
The entire poem calls out to a personified Memory - from the first line ("THOU who stealest fire")
Use of Extended Metaphors - Memory is related to various scenes of Lord Alfred Tennyson's childhood.
Figurative Language reveals the intent of the speaker: describes how/why childhood memories can really reflect on what truly makes us who we are.
The Ode
Ode:
"a lyric poem typically of elaborate or irregular metrical form and expressive of exalted or enthusiastic emotion; often in the form of address."
Nguyên Trãi
Divided into five cantos, each longer than the one before it.
Meter varies from line to line - no consistent syllable count or accent pattern.
Repeats the final three lines of the first canto twice: at the end of the third and fifth cantos.
Lyric - focuses on the poet's personal thoughts, feelings, and ideas - free flowing
quê gốc ở làng Chi Ngại, huyện Phượng Sơn, lộ Lạng Giang (nay thuộc Chí Linh, Hải Dương). Ông là con trai của Nguyễn Phi Khanh và bà Trần Thị Thái, là cháu ngoại của Trần Nguyên Đán.

- Thi đỗ Thái học sinh năm 1400, Nguyễn Trãi từng làm quan dưới Triều Hồ. Sau khi Việt Nam bị rơi vào sự cai trị của nhà Minh, Nguyễn Trãi tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo chống lại ách Minh thuộc.

- Nguyễn Trãi là một tài năng lỗi lạc hiếm có.Ông đã hướng ngòi bút của mình theo hai hướng chữ Hán và chữ Nôm.Ở Phương diện nào ông cũng có những thành công nhất định,tác phẩm của Nguyễn Trãi sau khi ông qua đời cũng chịu số phận long đong,các tác phẩm của ông bị lệnh tiêu hủy. Hai mươi hai năm sau, tác phẩm của ông mới được tìm lại và nửa cuối thế kỷ XIX mới được khắc in. Nhờ vào tình yêu thơ văn Nguyễn Trãi của biết bao thế hệ những tác phẩm ấy đã được bảo tồn.

- Về chữ Hán có nhiều tác phẩm nổi tiếng. Ở lĩnh vực chính trị, quân sự có tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập”, bao gồm một số thư từ văn bia, biểu chiếu mà Nguyễn Trãi hay Lê Lợi viết để đối nội và đối ngoại.

“Bình Ngô đại cáo” vừa là “án thiên cổ hùng văn ” trong lịch sử, tổng kết đủ và xúc động về cuộc kháng chiến anh dung chông giặc Minh xâm lược vừa là bản tuyên ngôn về lòng yêu hòa bình của nhân dân ta. Ngoài ra, Nguyễn Trãi còn soạn hai bài gồm phú, chiếu, biểu, tấu, bi ký, lục trong đó đáng chú ý là bài “phú núi Chi Linh”, “chuyện cũ về cụ Băng Hồ”. Ở lĩnh vực lịch sử có tác phẩm Lam Sơn thập lục và văn bia Vĩnh Lăng: Nguyễn Trãi ghi lại quá trình của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, khẳng định tư tưởng gắn bó với dân là điều kiện kiên quyết của mọi thắng lợi. Dư địa chí là tác phẩm địa lý duy nhất còn lại ở nước ta. Ngoài giá trị địa lý cuốn sách còn có giá trị lịch sử và dân tộc học. Và Ức trai thi tập là tác phẩm lớn nhất bằng chữ Hán (105 bài) thể hiện tâm sự cá nhân của Nguyễn Trãi.

Về chữ Nôm, Nguyễn Trãi có tập Đại thành “Quốc âm thi tập” đánh dấu sự trưởng thành của nên thi ca tiếng Việt. Quôc ân thi tập gồm 254 bài. Nguyễn Trãi được xem là nhà thơ lớn đầu tiên viết thơ chữ Nôm, đồng thời là người sáng tác thơ Nôm đoản thiên có số lượng nhiều bật nhất trong nên thơ cổ điển dân tộc. Xem xét giá trị tự thân cũng như vai trò vị trí của tập thơ trong toàn cảnh nền văn học truyền thống, Quốc âm thi tập gợi mở nhiều phương hướng tiếp cận, nhiều vấn đề lý thú về nội dung và nghệ thuật ngôn từ, về văn học và văn hóa, về chính ý nghĩa của tập thơ trong sự phát triễn chung của ngôn ngữ dân tộc.
- Khác với bộ phận thơ chữ Hán, “quốc âm thi tập” là tập thơ Nôm,thơ tiếng Việt chính vì lẽ đó mà lời thơ trong “quốc âm thi tập” uyển chuyển, dung dị, đời thường và gần gũi với nếp cảm, nếp nghĩ của dân tộc. Đây cũng chính là lí do khiến các thi nhân cũng như giới nghiên cứu cùng quan tâm viết bình giảng, bình thơ cảm thụ thơ nôm Nguyễn Trãi chi tiết với từng đề tài, từng bài thơ, thậm chí từng câu, từng chữ.

- Thơ văn Nguyễn Trãi nói chung và “Quốc âm thi tập” nói riêng, bài nào cũng thắm đượm tinh thần dân tộc, mang hoài bão lớn của tấm lòng “tiên ưu, hậu lạc” (lo trước, vui sau). Sinh ra và lớn lên, được chứng kiến nhiều cảnh đảo điên, vui buồn sướng khổ của xã hội các triều đại Trần, Hồ, Lê, và điều đó phản ánh khá rõ trong thơ chữ Nôm, chữ Hán của ông.

Hồn thơ trong “Quốc âm thi tập” có thể coi là một nét của hồn dân tộc. Mỗi hình tượng thơ, mỗi thể loại thơ, mỗi câu chữ ông dùng đều bộc lộ ý tưởng sáng tác, mang dấu ấn riêng, đậm chất dân gian.

Cùng thời với ông, nhiều nhà thơ sa vào bút pháp ngâm vịnh và lệ thuộc vào nhiều điển cố, điển tích của văn học cổ Trung Quốc. Nguyễn Trãi cũng không thoát khỏi thi pháp cổ điển ấy, nhưng ta vẫn thấy ông có sự tiếp thu sáng tạo theo cách cảm, cách nghĩ, cách biểu hiện mới.

Đề tài, nhân vật, cảnh vật trong “Quốc âm thi tập” là những gì rất gần gũi cuộc sống thôn dã. Đó là một cây chuối đang độ trẻ trung nguyên trinh, một cây xoan đầy hoa khoe sắc, một rừng cây luôn mở cửa đợi chim về, một ao sen chờ trăng lên in bóng, một áng chiều tà, một vầng trăng xao xuyến, một luồng gió thổi nơi rừng thông, một tiếng suối như cung đàn cầm…Từ con mèo, con chó, con ngựa đến ao rau muống, giậu mồng tơi, quả núc nác, củ ấu, lảnh mùng, khóm vầu, bụi tre… tất cả đều ùa vào thơ ông như chính sự sống vốn có. Những mảnh đời bất hạnh hay đạo vợ chồng, tình cha con, bằng hữu luôn ẩn chứa trong mỗi hình tượng thơ.

- Nguyễn Trãi đã xử lý các đề tài, các điển tích, điển cố tưởng đã sáo mòn trong văn học cổ Trung Quốc bằng cách thổi vào đó cái hồn của những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ Việt Nam. Nói một cách khác là ông đã Việt hoá những phần vay mượn từ Hán học.

- Từ câu: “Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc” (nghĩa là: lo trước nỗi lo của thiên hạ, vui sau niềm vui của thiên hạ - Phạm Văn Chính). Nguyễn Trãi đã diễn đạt ý đó bằng hai câu ở bài Ngôn chí (bài 18):
Ta ắt bằng lòng Văn Chính nữa
Vui sơ chẳng quản đeo âu.

- Từ câu: “Nhân tâm chi bất đồng như kỳ diện yên” (nghĩa là: lòng người khác nhau hiện ra ở nét mặt – Tả truyện), và từ câu tục ngữ Việt Nam “Nhìn mặt mà bắt hình dong”, Nguyễn Trãi đã viết:
Lòng người tựa mặt ai ai khác
Sự thế bằng cờ bước bước nghèo.
(Mạn thuật - bài 10)

Ông trở thành mưu sĩ của nghĩa quân Lam Sơn trong việc bày tính mưu kế cũng như soạn thảo các văn thư ngoại giao với quân Minh. Ông là khai quốc công thần và là văn thần có uy tín ở thời đầu nhà Hậu Lê. Tuy nhiên, năm 1442, toàn thể gia đình Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc trong vụ án Lệ Chi Viên. Năm 1464, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu giải oan cho ông. Năm 1464, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu giải oan cho ông.

- Nguyễn Trãi cũng là một nhà văn hoá lớn, có đóng góp to lớn vào sự phát triển của văn học và tư tưởng Việt Nam. Ông nằm trong danh sách 14 anh hùng dân tộc tiêu biểu nhất ở Việt Nam, ông cũng là danh nhân văn hoá của Việt Nam và thế giới.
- Từ một câu ngạn ngữ Hán học: “Bần cư trung thị vô nhân vấn/ Phú tại sơn lâm hữu khách tầm” (nghĩa là: người nghèo dù ở giữa chợ cũng không có người hỏi/ người giàu ở tận núi rừng vẫn có khách tìm tới), Nguyễn Trãi đã diễn đạt ý đó ở bốn bài thơ khác nhau:
Của nhiều sơn dã đem nhau đến
Khó ở kinh thành ít kẻ han
(Bảo kính cảnh giới – bài 6)
Giàu người hợp, khó người tan
Hai ấy hằng lề sự thế gian
(BKCG- bài 12)
Phú quý thì nhiều kẻ đến chen
Uốn đòi thế thái tính chưa quen
(BKCG-bài 13)
Yêu trọng người dưng là của cải
Thương vì thân thích nghĩa chân tay
(BKCG- bài 18)

- Với những triết lý về lẽ sống ấy, ông đã phê phán những ai xem “của nặng hơn người”. Đó là những kẻ luôn lấy tiền bạc làm thước đo giữa người và người trong các mối quan hệ xã hội. Nguyễn Trãi đã lên án hạng người đó. Đây cũng là một khía cạnh của triết lý nhân sinh mà ông hằng ôm ấp.

- Điểm nổi bật nhất về mặt hình thức của “Quốc âm thi tập” là việc ông sử dụng sáng tạo ngôn ngữ dân tộc. Nhiều quán ngữ, thành ngữ, tục ngữ, ca dao được dùng khá linh hoạt, như: đôi ba khóm, sừng qua tai, quanh co ruột ốc, nên thợ nên thầy, no ăn, no mặc… Đó là thứ ngôn ngữ của người lao động được ông gọt giũa, cách điệu hoá và nâng lên để diễn đạt những ý tưởng cô đúc, nhuần nhị. Ta hãy làm một phép so sánh đối chiếu ở một số câu thơ giàu chất dân gian của ông

Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng

Ở gần nhà giàu đau răng ăn cám
Ở gần kẻ trộm ốm lưng chịu đòn
Của làm ra để trên gác/ của cờ bạc để ngoài sân/ của phù vân để ngoài ngõ

Ở đấng thấp thì nên đấng thấp
 Đen gần mực, đỏ gần son 
                                (BKCG- bài 21)

Bất nhân vô số nhà hào phú
Của ấy nào ai từng được chầy  
                               (BKCG - bài 44)

Lận đận nhà giàu no bữa cám
  Bạn bè kẻ trộm phải ăn đòn
                                (BKCG- bài 21)
  
TỤC NGỮ, THÀNH NGỮ, CA DAO

QUỐC ÂM THI TẬP
 (Nhiều bài có trong Bạch Vân thi tập)
Với những đóng góp về văn chương và quân sự của ông cho dân tộc, năm 1965, Unesco (Tổ chức Văn hóa- Khoa học- Giáo dục của Liên hợp quốc) đã công nhận ông là Danh nhân văn hoá. Sự nghiệp kinh bang tế thế và sự nghiệp văn chương của Nguyễn Trãi tuy hai mà một, vằng vặc như sao Khuê. Suốt đời ông ôm một hoài bão lớn vì dân, vì nước đậm tính nhân văn. Đúng như lời ngợi ca của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Nguyễn Trãi, người anh hùng dân tộc, văn võ song toàn. Văn là chính trị, chính trị cứu nước, cứu dân, nội trị, ngoại giao, “mở nền thái bình muôn thuở, rửa nỗi thẹn nghìn thu”. Võ là quân sự: chiến lược và chiến thuật “yếu đánh mạnh”, “ít địch nhiều”, “thắng hung tàn bằng đại nghĩa”. Văn và võ đều là vũ khí, mạnh như vũ bão, sắc như gươm dao”.

III. Tâm tình thơ của
Nguyễn Trãi

Văn chương của Nguyễn Trãi là văn chương của sự “ưu nước ái dân” , là văn chương của sự tha thiết cuộc sống, văn chương thấm đậm tình người, văn chương lạc quan và vui tươi.

Văn chương của Nguyên Trãi là văn chương thấm đậm tình người trong văn thơ của mình Nguyễn Trãi hướng trọn tấm lòng, con tim, khối óc về với những người dân đau khổ những bà con thân thích, những người bạn chí cốt. Với những người dân manh lị Nguyễn Trãi vừa xót xa trước thảm cảnh cùng họ vừa thấy rõ sức mạnh “chở thuyền” và “lật thuyền” của dân lại vừa cất cao lời ca ngợi sức mạnh dưới cờ nghĩa Lam Sơn .

“Nhân dân bốn cỏi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới
Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước song chén rượu ngọt ngào.”
“Bình ngô đại cáo”

Nguyễn Trãi dành trọn thương cảm và tin yêu đối với con người tuy nhiên, đối với thực tế phũ phàn của cuộc đời đầy “thác cả sóng ngầm” có khi Nguyễn Trãi phải xót xa đau đớn
“Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn
Lòng ngưỡi quanh nữa nước non quanh”
(Báo kính cảnh giới-Bài 9)
Và đau đớn thốt lên :
“Co que chi bấy ruột ốc
Lắt lẻo làm chi trái hòe ?”
(Trần Tình- Bài 8)
Nhưng là một người thiết tha xây dựng hạnh phúc cho dân, cho nước Nguyễn Trãi luôn yêu cầu văn nghệ phải gắn bó với cuộc sống. Ông hiểu rõ và đề cao tác dụng của văn nghệ đồng thời cũng yêu cầu văn chương phải gắn bó với sự nghiệp, với nhiệm vụ làm người :
“Văn chương chép lấy đôi câu thánh
Sự nghiệp tôi gìn, phải tạo trung
Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược
Có nhân, có trí, có anh hùng”
(Báo kính đẳng giới- Bài 15)
Ở Nguyễn Trãi luôn có một niềm tin yêu đối với con người và mong muốn mọi người ai cũng có cơm ăn, áo mặc, được học hành, có nghề nghiệp :
“Nên thợ , nên thầy vì có học
No ăn, no mặc bởi làm hay”
(Báo kính đẳng giới)
Thơ văn của Nguyễn Trãi bộc lộ tâm hồn của một người yêu đời, yêu người và yêu thiên nhiên tươi đẹp. Tâm tình của ông có lúc vui vẻ thanh thoát:
“Nhàn trung tận nhật bé thư trai
Môn ngoại toàn vô tục khách lai
Đỗ vũ thanh trung xuân hướng lão
Nhất đình sơ vũ luyện hoa khai.”
(Tích cảnh –bài 3)
Ở Nguyễn Trãi niềm vui, nỗi buồn, tình yêu thương, nỗi căm giận thể hiện rạch ròi
Với giặc ngoại xâm, Nguyễn Trãi căm thù bi phẫn:
“Ngẫm thù lớn há đội trời chung
Căm giặc nước thề không cùng sống”
(Bình Ngô đại cáo)
Trước cảnh gian sơn đất nước thấm máu và nước mắt vì cảnh loạn lạc chia ly, nước mắt Nguyễn Trãi lệ nhòa:
“Kỳ thác mộng hồn tâm có li
Không tương huyết lệ tẩy tiên uynh”
(Quy Côn Sơn chu trung tác)
Và trước sự chuyển biến của thời gian,nhà thơ có lúc cảm thấy luyến tiếc:
“Xuân xanh chưa dễ hai phen lại
Thấy ảnh càng them tiếc thiếu niên”
(Tích cảnh-bài 3)
Nhiều khi ta lại bắt gặp Nguyễn Trãi tinh tế-kín đáo.Nhưng trước sau Nguyễn Trãi vẫn là một con người lạc quan,dí dỏm nhưng yêu nước thương dân tột cùng.Đó là một tâm hồn đầy sức sống mà niềm tin vào con người.

IV/ Nghệ thuật
IV. Nghệ thuật

*Quốc âm thi tập: sự phá vỡ cách niêm luật thơ Đường
Nguyễn Trãi là người mở đầu cho việc làm thơ phải vận dụng hết cái đẹp của tiếng mẹ đẻ.Làm thơ bằng tiếng việt khi đó chưa trở thành chủ ngữ trong văn học dân tộc,khi văn học chữ Nôm chưa hình thành được lối thơ riêng.Thơ Nôm của Nguyễn Trãi đã vận dụng thơ Đường một cách thành thạo.Ông thử ngòi bút của mình theo hai thứ tiếng Hán và tiếng Việt và đã ghi được nhiều thành công vẻ vang.

Sự phá vỡ đó trước hết là cách ngắt nhịp,về những câu 7 tiếng ta gặp trong Quốc Âm thi tập có những câu 7 tiếng ngắt theo nhịp (3/4), cách ngắt nhịp, nhịp chẵn sau, khác lối ngắt ở thể Đường luật là (4/3) chẵn trước lẻ sau.

Ví dụ: Vừa sáu mươi dư tám chin thu
Lưng gầy da si tướng lù khù
Đứng về mặt ý nghĩa, câu thơ thường có khả năng phân tích lối ngắt nhịp khác nhau. Nhưng cũng có trường hợp 1 lối. Do cách ngắt nhịp khác nhau nên các thanh bằng, thanh trắc cũng không theo thể Đường luật.
Về cách ngắt nhịp, Nguyễn Trãi đã có sự phá cách trong những thể thơ truyền thống của Đường luật. Bên cạnh đó, sự phá vỡ quy cách niêm luật thơ Đường đó là về thơ ngũ ngôn xen kẽ thất ngôn:
Trẻ hòa sang ấy phúc
Già được trọn là tiên
Cho về cho ở đền ơn chúa
Lo phải chon chen đến cửa quyền
(Thuật hứng - Bài 8)

Xét về tác dụng nghệ thuật, câu 6 tiếng trong bài thơ thất ngôn xen lục ngôn khiến lối thơ trở nên cô đọng, giản dị, ý thơ mạnh mẽ sắc sảo, phù hợp với việc diễn đạt chân lý của cuộc sống, những quyết tâm hành động của nhà thơ.
* Ngôn ngữ dân tộc và khuynh hướng Việt hóa trong Quốc âm thi tập
Trong thơ chữ Hán, tính dân tộc thể hiện ở chỗ phản ánh tâm hồn cốt tính cuộc sống, con người, thiên nhiên, đất nước Việt Nam với thơ Nôm, cuộc sống con người, thiên nhiên được miêu tả sinh động đầy đủ hơn. Thơ Nôm Nguyễn Trãi đậm đà phong vị bản sắc quê hương nhiều cỏ cây hoa lá, gắn bó với nhân dân lao động, sau lũy tre xanh vốn rất xa lạ với văn chương bác học lại thiên về tự nhiên tập trung khá đầy đủ và tinh tế, mỹ lệ trong Quốc âm thi tập.
“ Vầu làm chèo, trúc làm nhà
Được thú vui, ngày tháng qua ”
(Trần tình – Bài 3)
Ngôn ngữ thơ Nguyễn Trãi vừa có cái mộc mạc, chân chất, mỹ lệ
“Am rợp, chim kêu hoa xảy động
Song im tận hưởng, khói sơ tàn ”
(Ngôn chí – Bài 16)
Sáng tác thơ của tác giả trung đại chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền văn hóa Trung Quốc. Đó là một thực tế, một lẽ dĩ nhiên có điều trong khi chép thơ cha ông ta đã kế thừa một cách có chọn lọc, có sáng tạo chứ không rập khuôn, máy móc, thậm chí có trường hợp đồng hóa trở lại. Thơ Nôm của Nguyễn Trãi là tiêu biểu cho sự đồng hóa kho văn liệu, thi liệu Hán họ.

V. Kết luận.
- Nguyễn Trãi là một vị anh hùng dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới. Ông là một tài năng trên nhiều lĩnh vực
- Nguyễn Trãi đã đem tất cả sức lực, trí tuệ, tài năng cống hiến cho cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc và cuộc đấu tranh vì cuộc thanh bình, hạnh phúc của đất nước và cuộc sống yên lành của nhân dân

- Riêng về mặt văn học ông đã để lại nhiều tác phẩm rạng ngời tinh thần yêu nước,nhân đạo và khí phách anh hùng Việt Nam. Đúng như đông chí Phạm Văn Đồng đã nhận định : “Nguyễn Trãi là khí phách của dân tộc, là tinh hoa của dân tộc. Sự nghiệp và tác phẩm của Nguyễn Trãi là một bài ca yêu nước và tự hào dân tộc”.

Nội dung trình bày :
1. Tác giả
2. Nội dung
3. Tâm tình thơ của Nguyễn Trãi
4. Nghệ thuật
5. Kết luận
Full transcript