Loading presentation...

Present Remotely

Send the link below via email or IM

Copy

Present to your audience

Start remote presentation

  • Invited audience members will follow you as you navigate and present
  • People invited to a presentation do not need a Prezi account
  • This link expires 10 minutes after you close the presentation
  • A maximum of 30 users can follow your presentation
  • Learn more about this feature in our knowledge base article

Do you really want to delete this prezi?

Neither you, nor the coeditors you shared it with will be able to recover it again.

DeleteCancel

Make your likes visible on Facebook?

Connect your Facebook account to Prezi and let your likes appear on your timeline.
You can change this under Settings & Account at any time.

No, thanks

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG TÀI CHÍNH VIỆT NAM

No description
by

Nguyễn Tuyết

on 22 February 2014

Comments (0)

Please log in to add your comment.

Report abuse

Transcript of SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG TÀI CHÍNH VIỆT NAM

Các thành viên của nhóm
1.Lê Hà Phương
2.Đinh Thị Phương
3. Nguyễn Thị Tuyết
4. Nguyễn Thị Thủy Tiên
5. Sem Vannthy

I.Sự hình thành và phát triển của hệ thống tài chính
Việt Nam
1. Quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam

2. Quá trình phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam

3. Quá trình phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG TÀI CHÍNH VIỆT NAM
I. Sự hình thành và phát triển của hệ thống tài chính Việt Nam

II. Bốn thành tố chính của hệ thống tài chính Việt Nam hiện nay



2. Quá trình phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam
2.2. Sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam

- Thành lập ban nghiên cứu và phát triển thị trường vốn (1993): Một trong những bước đi đầu tiên có ý nghĩa khởi đầu cho việc xây dựng thị trường chứng khoán (TTCK) ở Việt Nam.

- Thành lập uỷ ban chứng khoán nhà nước (1996): là bước đi phù hợp với chủ trương xây dựng và phát triển TTCK ở Việt Nam, có ý nghĩa quyết định cho sự ra đời của TTCK sau đó hơn 3 năm.


3. Công cụ tài chính
1. Quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam
1.1. Ngân hàng Thế giới và quan hệ giữa ngân hàng Thế giới với Việt Nam
1.2. Hệ thống ngân hàng thời Pháp thuộc
1.3.Hệ thống ngân hàng Việt Nam ở miền Bắc giai đoạn 1954-1975
1.4.Hệ thống ngân hàng ở miền Nam giai đoạn 1954-1975
1. Thị trường tài chính
* Là nơi các công cụ tài chính được mua bán, trao đổi.
Phân loại theo chức năng:
+ Dựa trên thời hạn của tín dụng
- Thị trường tiền tệ: mua bán công cụ nợ ngắn hạn (dưới1 năm)
- Thị trường vốn: mua bán các chứng khoán kỳ hạn trên1 năm
+ Dựa trên loại tín dụng:
- Thị trường tín phiếu
- Thị trường trái phiếu
- Thị trường cổ phiếu
- Thị trường vay nợ ngân hàng

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG
TÀI CHÍNH VIỆT NAM

1.2. Hệ thống ngân hàng thời Pháp thuộc
Các hoạt động kinh tế của người Pháp ở Đông Dương bành trướng mạnh nên chính phủ phải lập các ngân hàng để hỗ trợ các hoạt động ấy:

- Ngân hàng Đông Dương : Là một công cụ hữu hiệu của chính quyền thuộc địa, là cơ quan tài chính lớn nhất của chính quyền và tài phiệt Pháp với chức năng: độc quyền phát hành tiền tệ như một Ngân hàng Trung ương, nó còn là một ngân hàng kinh doanh thương mại lớn nhất, cung cấp vốn cho hoạt động kinh tế của người Pháp ở Đông Dương như Công ty Hỏa xa Hải Phòng-Vân Nam, Công ty Than Hòn Gai-Cẩm Phả, Công ty Rượu Đông Dương, Công ty đường Hiệp Hòa, Công ty Cao su Đất Đỏ.

- Pháp-Hoa Ngân hàng :được thành lập với mục đích hỗ trợ các giao dịch thương mại giữa Pháp, Đông Dương và Trung Hoa cũng như với một vài nước khác ở Á Đông như Nhật, Thái Lan
Ngoài hai ngân hàng trên, các nước có quyền lợi kinh tế trong vùng cũng có thiết lập các ngân hàng ở Việt Nam như The Chartered Bank, The Hong Kong and Shanghai Banking Corporation của Anh, Trung Quốc ngân hàng và Giao thông ngân hàng của Trung Quốc.
- Từ cuối thế kỷ 19 đến 3 thập niên đầu thế kỷ 20, các hoạt động ngân hàng đều ở trong tay người nước ngoài.

- 1927, thành lập An Nam ngân hàng (sau đổi tên là Việt Nam ngân hàng) với vốn hoàn toàn của người Việt, chủ yếu hỗ trợ cho các hoạt động nông nghiệp.
- 1954, thành lập Việt Nam công thương ngân hàng.

1.3.Hệ thống ngân hàng Việt Nam ở miền Bắc giai đoạn 1954-1975

Thời kỳ 1951 - 1954: 6/5/1951, thành lập Ngân hàng Quốc Gia Việt Nam với các nhiệm vụ chính: Phát hành giấy bạc ngân hàng, thu hồi giấy bạc tài chính; Thực hiện quản lý Kho bạc Nhà nước góp phần tăng thu, tiết kiệm chi, thống nhất quản lý thu chi ngân sách;Phát triển tín dụng ngân hàng phục vụ sản xuất, lưu thông hàng hoá.


Thời kỳ 1955 - 1975:
- Ngày 21/1/1960, Ngân hàng Quốc Gia Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
- 7/1976, Ngân hàng Quốc gia ở miền Nam được hợp nhất vào Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tạo thành hệ thống Ngân hàng Nhà nước duy nhất của cả nước.
Hệ thống tổ chức thống nhất của Ngân hàng Nhà nước bao gồm: Ngân hàng Trung ương đặt trụ sở chính tại thủ đô Hà Nội, các Chi nhánh Ngân hàng tại các tỉnh, thành phố và các chi điếm ngân hàng cơ sở tại các huyện, quận trên phạm vi cả nước thực hiện những nhiệm vụ cơ bản: Củng cố thị trường tiền tệ, giữ cho tiền tệ ổn định, góp phần bình ổn vật giá, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc khôi phục kinh tế; Phát triển công tác tín dụng nhằm phát triển sản xuất lương thực, đẩy mạnh khôi phục và phát triển nông, công, thương nghiệp.
- 1957: Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam thành lập
- 1963: Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam thành lập

1.4.Hệ thống ngân hàng ở miền Nam giai đoạn 1954-1975

- Giai đoạn từ 1954-1964:

+ 31-12-1954, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được thành lập, thay thế viện phát hành Đông Dương, chính thức phát hành giấy bạc cho cả miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, ảnh hưởng của hệ thống ngân hàng Pháp vẫn còn đè nặng trên những hoạt động kinh tế của Sài Gòn, dân chúng và giới kinh doanh vẫn ưa chuộng các ngân hàng Pháp còn hoạt động: Vẫn thích ký thác tiền và sử dụng những dịch vụ của ngân hàng này. Những quyền lợi kinh tế của người Pháp ở miền Nam vẫn còn nhiều và hoạt động về ngân hàng của họ cũng khá mạnh.
+ Cuối năm 1953, khi Ngân hàng Đông Dương chấm dứt các hoạt động thương mại của nó thì một phần nhiệm vụ của nó chuyển qua Ngân hàng Việt Nam Thương tín và một phần được chuyển qua Ngân hàng kế nghiệp của người Pháp ở miền Nam là Pháp Á ngân hàng.
+ 1961: Bangkok bank thiết lập
+ 1962: The Bank of Tokyo thiết lập


- Giai đoạn 1965-1975:

+ 1965-1972:các ngân hàng thương mại ở Miền Nam Việt Nam phát triển rầm rộ .

+ Tính đến trước tháng 04/1975, hệ thống ngân hàng ở Miền Nam bao gồm hai loại: ngân hàng trung ương và các ngân hàng khác. Ngân hàng trung ương thuộc nhà nước, còn các ngân hàng khác, tùy theo nguồn vốn, có thể phân biệt nhóm ngân hàng của Chính phủ và nhóm ngân hàng tư nhân. Tổng số lên đến 32 ngân hàng thương mại với 180 chi nhánh, 2 ngân hàng phát triển và 60 ngân hàng nông thôn xuất phát từ hệ thống này được thành lập tới cấp quận tại các tỉnh miền Nam.


- Khai trương trung tâm giao dịch chứng khoán (2000): Trung tâm giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh chính thức được đưa vào hoạt động với hai Công ty niêm yết đầu tiên và Công ty cổ phần cơ điện lạnh (REE) và Công ty vật liệu Viễn thông (SACOM) ngày 28/07/2000.

- Đưa Uỷ ban chứng khoán Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính (2004) : Trong đó việc khai trương Trung tâm GDCK Hà Nội đã thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán ngày nay.


3. Quá trình phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam

3.1. Lịch sử ra đời và phát triển của bảo hiểm thế giới.
- Ngành bảo hiểm thế giới có lịch sử phát triển khá lâu dài.

- Bảo hiểm hàng hải được coi là có lịch sử phát triển sớm nhất trong các loại bảo hiểm tồn tại đến ngày nay và nó đã đặt nền móng cho sự phát triển của các loại bảo hiểm sau này.

- Bảo hiểm hỏa hoạn ra đời sau bảo hiểm hàng hải và là lĩnh vực hoạt động chủ yếu của các công ty bảo hiểm trong thời kỳ đầu.

- Bảo hiểm nhân thọ cũng ra đời khá sớm nhưng do thiếu cơ sở khoa học nên bị nhà thờ cấm đoán. Đến thế kỉ thứ XVII, Ferma, Pascal và sau đó là Bemouli khai sinh và phát triển xác xuất thống kê toán. Cơ sở khoa học của bảo hiểm được hình thành. Công ty bảo hiểm đầu tiên ra đời ở Anh năm 1762. đến cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX nền kinh tế ngày càng phát triển, các nghiệp vụ bảo hiểm nối tiếp nhau ra đời để đảm bảo cho các rủi ro mới.



b. Sự phát triển của thị trường bảo hiểm tại Việt Nam
Trước năm 1986:

+ Hoạt động bảo hiểm ở nước ta ít nhiều cũng có những bước phát triển ngay từ thời thực dân Pháp.


+ Cho đến khi miền Bắc được giải phóng, đất nước bị chia cắt, hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam khá phát triển dưới chế độ ngụy quyền.

Ở miền Nam năm 1975: có hơn 52 công ty trong và ngoài nước đã triển khai các loại nghiệp vụ khá đa dạng -> đáp ứng được phần nào nhu cầu của người dân Sài Gòn.

Ở miền Bắc trước năm 1975: hoạt động bảo hiểm chỉ thực sự bắt đầu khi có sự ra đời của Bảo Việt.

Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng: các công ty bảo hiểm cũ của miền Nam được tiến hành quốc hữu hóa

Từ năm 1986 đến nay: Thị trường Bảo Hiểm phát triển vượt bậc
-
Năm 1986 Việt Nam tiến hành mở cửa nền kinh tế, thu hút đầu tư từ nhiều quốc gia, tạo bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế của nước ta -> đời sống nhân dân được nâng cao -> tạo điều kiện cho lĩnh vực bảo hiểm phát triển

- Ngày 18/12/1993, nghị định 100 CP về hoạt động kinh doanh bảo hiểm đã được chính phủ ban hành, mở ra bước phát triển mới cho ngành bảo hiểm Việt Nam.

- Về mặt pháp lý, năm 2000, Quốc hội đã thông qua Luật Kinh doanh bảo hiểm

* Thị trường Bảo hiểm hiện nay
-
Tính đến đầu năm 2012, có tổng cộng 57 doanh nghiệp bảo hiểm và môi giới bảo hiểm đang hoạt động với tổng tài sản đạt trên 107 nghìn tỷ đồng, trong đó có 29 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, 14 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, 2 doanh nghiệp tái bảo hiểm, và 12 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
- Ngoài ra còn có trên 32 văn phòng đại diện của các tổ chức bảo hiểm nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam tính đến đầu 2012.

II. Bốn thành tố chính của hệ thống tài chính Việt Nam hiện nay

1. Thị trường tài chính
2. Các tổ chức tài chính
3. Các công cụ tài chính
4. Cơ sở hạ tầng tài chính
Một số phân loại khác của T.T.T.C
+ Thị trường sơ cấp và thứ cấp
- Thị trường sơ cấp: nơi phát hành lần đầu các công cụ tài chính
- Thị trường thứ cấp: nơi mua bán lại các công cụ tài chính đã phát hành

+ Thị trường tập trung và phi tập trung
- Thị trường qua sàn giao dịch chính thức (thị trường tập trung):
giao dịch các chứng khoán có niêm yết.
- Thị trường không qua sàn giao dịch chính thức (thị trường phi tập trung): giao dịch các chứng khoán không niêm yết
 
+ Thị trường tài chính chính thức và phi chính thức
- Thị trường chính thức: được tổ chức, quản lý một cách hệ thống.
- Thị trường không chính thức: bao gồm những người cho vay lấy lãi, tổ chức tiết kiệm và cho vay phi chính thức, HTX tín dụng,…

2 . ​Các tổ chức tài chính ở Việt Nam

4. Cơ sở hạ tầng tài chính

Cơ sở hạ tầng tài chính: là những nền tảng để qua đó các doanh nghiệp, nhà đầu tư, cá nhân thực hiện các giao dịch tài chính với các định chế tài chính trung gian và thị trường tài chính

2.1.Quá trình hình thành thị trường chứng khoán trên thế giới.

- Thị trường chứng khoán thế giới bắt nguồn từ những trung tâm buôn bán của phương Tây vào thế kỉ thứ 15.

- Phiên chợ đầu tiên năm 1453 tại Vanber của Bỉ, sau đó xuất hiện ở Anh năm 1773, ở Đức năm 1778, ở Mỹ năm 1792, ở Tụy Sỹ năm 1876, ở Nhật năm 1878, ở Pháp năm 1801, ở Hương Cảng năm 1946, ở Inddonneexxia năm 1925, ở Hàn Quốc năm 1956, ở Thái Lan năm 1962, ở Malaysia và Philipin năm 1963.

- Thị trường chứng khoán thế giới cũng đã phải trải qua nhiều bước thăng trầm. Hiện nay thị trường chứng khoán đã phát triển mạnh ở hầu hết các nước công nghiệp hàng đầu Mỹ, Nhật, Anh, Đức, Pháp... Bên cạnh đó có 40 nước phát triển đã thiết lập thị trường chứng khoán.

1.1. Ngân hàng Thế giới và quan hệ giữa Ngân hàng Thế giới và Việt Nam
1.1.1. Ngân hàng Thế giới

Ngân hàng Thế giới (WB) được thành lập vào năm 1944, trụ sở chính đặt tại Washington, D.C. WB hiện có hơn 9000 nhân viên làm việc tại hơn 100 văn phòng đại diện trên toàn thế giới.

WB là gồm có 5 cơ quan hoạt động tương đối độc lập với nhau gồm: (i) Hiệp hội Phát triển Quốc Tế (IDA) thành lập 1960; (ii) Ngân hàng Quốc tế về Tái Thiết và Phát triển (IBRD) thành lập năm 1945; (iii) Công ty Tài chính Quốc Tế (IFC) thành lập 1956; (iv) Cơ quan Bảo lãnh Đầu tư Đa biên (MIGA) thành lập 1988; và (v) Trung tâm Quốc tế về xử lý tranh chấp Đầu tư (ICSID) thành lập 1966.


1.1.2. Quan hệ giữa Ngân hàng Thế giới với Việt Nam

- Ngày 18/8/1956, chính quyền Sài gòn Nam Việt Nam đã gia nhập WB.
Ngày 21/9/1976, nước CHXHCN Việt Nam tiếp quản tư cách hội viên tại WB của Chính quyền Sài Gòn cũ.

- Tháng 10/1993, Việt Nam chính thức nối lại quan hệ với WB sau một thời gian dài gián đoạn từ 1978-1993.

- Kể từ năm 1993 đến nay, mối quan hệ Việt Nam-WB ngày càng được tăng cường và phát triển mạnh mẽ, mức cam kết cho Việt Nam ngày càng tăng. Hiện nay, Việt Nam là một trong những nước vay ưu đãi lớn nhất từ IDA.
.

2.1. Ngân hàng Trung ương và các tổ chức tín dụng

2.1.1. Ngân hàng Trung ương
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan ngang Bộ của Chính phủ, Ngân hàng Trung ương của nước CHXHCN Việt Nam.
Các nhiệm vụ chính:
- Xây dựng chỉ tiêu lạm phát hàng năm để trình Chính phủ, sử dụng các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.
- Quyết định áp dụng các biện pháp xử lý đặc biệt đối với tổ chức tín dụng vi phạm nghiêm trọng các
quy định của pháp luật về tiền tệ, các ngân hàng coa nguy cơ gây mất an toàn cho hệ thống ngân hàng.
- Kiểm tra, thanh tra, giám sát các hoạt động tài chính trong hệ thống ngân hàng.
- Thực hiện các nghiệp vụ Ngân hàng Trung ương.
2.1.2. Các tổ chức tín dụng
- Các ngân hàng thương mại: tính đến 2013. có 5 ngân hàng thương mại quốc doanh chiếm khoảng 42,8% tổng tài sản, 34 ngân hàng cổ phần, 4 ngân hàng liên doanh, 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài.
- Ngân hàng chính sách xã hội: được thành lập với nhiệm vụ cấp tín dụng cho các đối tượng chính sách.
- Các công ty tài chính: hoạt động chủ yếu để nhằm để dàn xếp tài chính cho các tổng công ty mà nó trực thuộc.
- Các công ty cho thuê tài chính: phần lớn là thuộc các ngân hàng thương mại mà chủ yếu là các ngân hàng quốc doanh.
- Các tổ chức tín dụng.

2.2. Ủy ban chứng khoán Nhà nước và các tổ chức hoạt động trên thị trường Chứng khoán
- Ủy ban chứng khoán nhà nước: có nhiệm vụ chính trong việc tổ chức và giám sát các hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam.
- Các tổ chức hoạt động trên thị trường Chứng khoán: các công ty chứng khoán, ngân hàng chỉ định thanh toán, ngân hàng lưu kí chứng khoán, các công ty quản lí quỹ đầu tư, các công ty niêm yết.
2.3. Các công ty bảo hiểm
- Các công ty bảo hiểm: ngoài 57 công ty bảo hiểm và môi giới bảo hiểm trong nước còn có sự góp mặt của hơn 32 văn phòng đại diện của các tổ chức bảo hiểm nước ngoài.
- Quy mô thị trường:
+Năm 2012, thị trường bảo hiểm nhân thọ có tổng số hợp đồng có hiệu lực là 4.764.108 hợp đồng.
+Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ đạt tăng trưởng 10.33%, tỷ lệ bồi thường 39%.
2.4. Một số loại tổ chức tài chính khác
- Quỹ lương hưu
- Tiết kiệm bưu điện
- Quỹ hỗ trợ phát triển và các quỹ đầu tư phát triển của các tỉnh, thành phố.
Full transcript