Loading presentation...

Present Remotely

Send the link below via email or IM

Copy

Present to your audience

Start remote presentation

  • Invited audience members will follow you as you navigate and present
  • People invited to a presentation do not need a Prezi account
  • This link expires 10 minutes after you close the presentation
  • A maximum of 30 users can follow your presentation
  • Learn more about this feature in our knowledge base article

Do you really want to delete this prezi?

Neither you, nor the coeditors you shared it with will be able to recover it again.

DeleteCancel

Make your likes visible on Facebook?

Connect your Facebook account to Prezi and let your likes appear on your timeline.
You can change this under Settings & Account at any time.

No, thanks

Copy of Free Christmas Prezi Template 2013

The Prezenter Ltd offers Prezi training, Prezi design, and Prezi support to customers worldwide. http://www.theprezenter.com
by

Tran Anh Quan

on 15 December 2013

Comments (0)

Please log in to add your comment.

Report abuse

Transcript of Copy of Free Christmas Prezi Template 2013

THUYẾT TRÌNH VỀ ĐOAN MÔN - HOÀNG THÀNH THĂNG LONG
NHÓM 2 - LỚP NNT 15.02

THÀNH VIÊN NHÓM

1. THÁI THẾ CÔNG

2. ĐỨC THỊ QUỲNH.

3. TRẦN VĂN QUÂN

4. VÕ QUỐC CƯỜNG

5. NGUYỄN VIẾT DŨNG

6. LÊ ANH ĐỨC

7. LÊ VĂN CAO

8. NGUỄN QUANG THINH

9. NGUYỄN THÙY LINH

10. NGUYỄN VĂN THÀNH

Hoàng Thành Thăng Long
Hoàng thành Thăng Long là quần thể di tích gắn với lịch sử kinh thành Thăng Long - Hà Nội bắt đầu từ thời kỳ từ tiền Thăng Long (An Nam đô hộ phủ thế kỷ VII) qua thời Đinh - Tiền Lê, phát triển mạnh dưới thời Lý, Trần, Lê và thành Hà Nội dưới triều Nguyễn. Đây là công trình kiến trúc đồ sộ, được các triều vua xây dựng trong nhiều giai đoạn lịch sử và trở thành di tích quan trọng bậc nhất trong hệ thống các di tích Việt Nam.


ĐOAN MÔN
Hình ảnh thành Hà nội với cổng phía Nam (Đoan Môn) của bác sĩ Hocquard chụp khoảng 1884-1885
Bức bưu ảnh chụp Đoan Môn từ hướng đường Hoàng Diệu ngày nay
Đoan Môn là cửa phía Nam của Cấm thành. Tư liệu lịch sử cho biết Đoan Môn từ thời Lý, qua thời Trần đến thời Lê, vị trí không thay đổi. Di tích Đoan Môn hiện còn, qua kết quả thăm dò khảo cổ học xác nhận kiến trúc này được xây dựng thời Lê sơ (thế kỷ 15) trên nền Đoan Môn thời Lý, Trần qua dấu tích và di vật phát hiện. Đấy là cửa trong cùng về phía Nam Cấm thành.


Đoan là chính, Đoan Môn là cửa chính hướng Nam của cung điện. Đối với Hoàng Thành thì Đoan Môn là cửa chính hướng Nam.
Đoan Môn là một kiến trúc rất quan trọng của kinh thành các thời Lý - Trần – Lê và cả thành Hà Nội, khi chỉ còn là vị trí của một tỉnh thành. Hơn 1000 năm thay triều đổi đại, bất kể bị tàn phá thế nào Đoan Môn cũng đều được xây dựng lại với tư thế vị trí một trong những cửa chính của Kinh thành. Khảo cổ học xác định rằng tìm thấy Đoan Môn là tìm thấy phần trung tâm của cả một đô thành.
Di tích nằm ở hướng Nam của điện Kinh Thiên thẳng trục với Cột Cờ Hà Nội, có diện tích 3.970m2

Đoan Môn hiện nay (trái) và Đoan Môn cuối thế kỷ XIX (phải)
Những góc khác nhau của Hoàng thành Thăng Long.
Toàn cảnh bên trong Hoàng thành.
Cửa Đông Hoàng thành.
Cửa Tây Nam Hoàng thành
Cửa Bắc Hoàng thành.
Điện Kính Thiên trong Cấm thành.
Những hình ảnh về thềm Điện Kính Thiên.
Từ hướng Cột cờ hà nội với con đường ngày nay mang tên Nguyễn Tri Phương
GIÁ TRỊ LỊCH SỬ, KIẾN TRÚC CỦA HOÀNG THÀNH NÓI CHUNG, ĐOAN MÔN NÓI RIÊNG
https://www.facebook.com/groups/284139188394442/
KẾT LUẬN
Hoàng thành Thăng Long là quần thể di tích gắn với lịch sử kinh thành Thăng Long - Hà Nội bắt đầu từ thời kỳ từ tiền Thăng Long (An Nam đô hộ phủ thế kỷ VII) qua thời Đinh - Tiền Lê, phát triển mạnh dưới thời Lý, Trần, Lê và thành Hà Nội dưới triều Nguyễn. Đây là công trình kiến trúc đồ sộ, được các triều vua xây dựng trong nhiều giai đoạn lịch sử và trở thành di tích quan trọng bậc nhất trong hệ thống các di tích Việt Nam.
Đoan Môn là cửa chính đi vào hoàng thành. Do cửa này có ba tầng, tầng một mở năm cửa nên còn có tên là Ngũ Môn.là cổng thành phía Nam của Cấm thành - nơi ở của nhà vua và hoàng tộc, cũng là nơi tập trung làm việc của triều đình, cơ quan đầu não của các chính quyền phong kiến thuở xưa.
Đây là công trình thể hiện trình độ kỹ thuật cao cũng như phong cách kiến trúc đặc trưng của đất nước ta, trải dài từ đầu thời kì nhà Lê cho đến thời kì nhà Nguyễn. Chính vì vậy, việc bảo tồn, gìn giữ công trình quý giá này, không những là để gìn giữ những giá trị văn hóa, lịch sử , mà còn là gìn giữ 1 biểu tượng tiêu biểu cho ngành kiến trúc Việt Nam trong 1 thời kì dài của lịch sử.
Ngoài ra việc p hát triển du lịch trên cơ sở khai thác các di tích là luôn gắn công tác bảo tồn tính đa dạng, gìn giữ các giá trị di tích lịch sử văn hoá với việc khai thác phục vụ du lịch; hay nói cách khác phát triển du lịch vì mục tiêu văn hoá; đồng thời, việc bảo vệ tôn tạo di tích phải hướng tới phục vụ ngày càng tốt hơn các đối tượng đến tham quan nghiên cứu, trong đó có khách du lịch.
CÁM ƠN THẦY VÀ CÁC BẠN ĐÃ CHÚ Ý LẮNG NGHE

A. KHÁI QUÁT VỀ HOÀNG THÀNH THĂNG LONG
1. Lịch sử phát triển
Giai đoạn tiền Thăng Long
Giai đoạn Lý - Trần từ thế kỷ X đến thế kỷ XV
Giai đoạn Lê - Mạc từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII
Giai đoạn từ kinh thành Thăng Long sang tỉnh Hà Nội XVIII-XX
Giai đoạn tỉnh thành Hà Nội thời Nguyễn
2. Cấu trúc qua các thời kỳ
B. ĐOAN MÔN
1. Vị trí của Đoan Môn trong Hoàng Thành
2. Kiến trúc, hình dáng, cấu trúc, công dụng ( mục đích sử dụng) của Đoan Môn
qua các thời kỳ
3. Khảo cổ phía dưới cửa Đoan Môn
4. Phương pháp bảo tồn Đoan Môn
C. GIÁ TRỊ LỊCH SỬ, KIẾN TRÚC CỦA HOÀNG THÀNH NÓI CHUNG, ĐOAN MÔN NÓI RIÊNG
1. Hoàng Thành Thăng Long
a. Giá trị lịch sử
b. Gía trị Kiến trúc
2. Đoan Môn
a. Gía trị lịch sử
b. Gía trị kiến trúc

MỤC LỤC
Giai đoạn tiền Thăng Long
Thời kỳ Nhà Đường, An Nam được chia thành 12 châu với 50 huyện, Tống Bình là trung tâm của An Nam đô hộ phủ, lần đầu tiên vùng đất sau là kinh thành Thăng Long nắm giữ vai trò một trung tâm quyền lực chính trị. Năm 866, viên tướng nhà Đường Cao Biền xây dựng một thành trì mới, Tống Bình được đổi tên thành Đại La – thủ phủ của Tĩnh Hải quân. Theo truyền thuyết, khi đắp thành, Cao Biền thấy một vị thần hiện lên tự xưng là thần Long Đỗ. Vì vậy, sử sách còn gọi Thăng Long là đất Long Đỗ.
Giai đoạn Lý - Trần từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIV
Năm 1010, tại kinh đô Hoa Lư, vua Lý Thái Tổ ban chiếu dời đô để chuyển kinh đô về thành Đại La và đổi tên kinh thành này là Thăng Long. Lý Thái Tổ cùng các quần thần đã gấp rút xây dựng những công trình cơ bản của Kinh thành Thăng Long. Đến đầu năm 1011 thì hoàn thành. Khi mới xây dựng, Kinh thành Thăng Long được xây dựng theo mô hình Tam trùng thành quách gồm: vòng ngoài cùng gọi là La thành hay kinh thành, vòng thành thứ hai là Hoàng Thành, giữa hai lớp thành này là nơi sinh sống của cư dân, lớp thành còn lại là Tử cấm thành hay Cấm thành hay Long Phượng thành là nơi ở của nhà vua. Các thời sau đều theo cách ấy mà phân chia.
Giai đoạn Lê - Mạc từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII
Sau khi chiến thắng giặc Minh, Lê Lợi vẫn đóng đô ở Thăng Long nhưng đổi tên là Đông Đô rồi Đông Kinh. Về cơ bản Đông Đô thời Lê không khác nhiều Thăng Long đời Lý Trần Hồ,nhà Lê sửa chữa lại hoàng thành do cuộc chiến tranh chống quân Minh để lại.
Từ năm 1490 cho đến thế kỷ 16 kinh thành mới có nhiều thay đổi. Trong thời gian này tường hoàng thành cũng như Đại La thành luôn được xây đắp mở rộng thêm ra. Năm 1490, để đề phòng những nạn loạn đảng như Nghi Dân đang đêm trèo tường vào giết Lê Nhân Tông ở trong cung, Lê Thánh Tôn cho xây lại Hoàng Thành mở rộng thêm 8 dặm nữa. Công việc xây dựng trong 8 tháng mới xong. Trong Hoàng Thành Lê Thánh Tôn cũng cho xây thêm cung điện và lập vườn Thượng lâm để nuôi bách thú. Năm 1512, Lê Tương Dực giao Vũ Như Tô đứng ra trông nom việc dựng hơn 100 nóc cung điện nguy nga, lại khởi công làm Cửu Trùng Đài mà như sử cũ miêu tả là tuy chưa hoàn thành mà bóng rợp nửa hồ Tây. Năm 1514, Lê Tương Dực mở rộng Hoàng Thành thêm mấy nghìn trượng (mỗi trượng là 3m60)bao bọc cả điện Tường Quang, Quán Trấn Vũ và chùa Kim Cổ Thiên Hoa.
Giai đoạn từ kinh thành Thăng Long sang tỉnh Hà Nội
Năm 1788, Lê Chiêu Thống cầu viện nhà Thanh, Tôn Sĩ Nghị đem đại quân 29 vạn người sang chiếm Thăng Long không tốn một hòn tên mũi đạn. Dựa thế quân Thanh Lê Chiêu Thống điên cuồng trả thù họ Trịnh. Phủ chúa bị Lê Chiêu Thống đốt trụi cháy ròng rã một tuần mới hết. Tất cả những gì liên quan đến chúa Trịnh ở Thăng Long bị phá sạch. Kinh thành lại một lần nữa ra tro. Đầu năm 1789, Quang Trung Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ ba đánh tan quân Thanh, Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc, triều Hậu Lê kết thúc, Quang Trung định đô ở Phú Xuân. Thăng Long chỉ còn là Bắc thành. Năm 1802 sau khi tiêu diệt xong Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi Hoàng Đế. Kinh đô vẫn được đặt ở Phú Xuân. Thăng Long vẫn mang tên gọi là Thăng Long nhưng chữ "Long" là rồng bị chuyển thành chữ "Long" nghĩa là thịnh vượng ý rằng nhà vua không còn ở đấy. Đồng thời những gì còn sót lại của Hoàng Thành sau những trận đại hủy diệt cuối thế kỉ 18 cũng lần lượt bị các đời vua nhà Nguyễn chuyển nốt vào Phú Xuân phục vụ cho công cuộc xây dưng kinh thành mới. Chỉ duy có điện Kính Thiên và Hậu Lâu được giữ lại làm hành cung cho các vua Nguyễn mỗi khi Ngự giá Bắc thành.
Giai đoạn tỉnh thành Hà Nội thời Nguyễn
Thành Hà Nội do Gia Long xây dựng cũng làm theo thể thức các tỉnh thành khác và điều chủ yếu là không được to rộng hơn Phú Xuân. Thành vuông xây theo kiểu Vauban của Pháp
Tường thành xây bằng gạch hộp chân thành xây băng đá xanh và đá ong.
Phía đông thành là nhiệm sở của Tổng trấn Bắc thành Nguyễn Văn Thành đầu triều Nguyễn.
Phía tây là kho thóc, kho tiền, và dinh bố chính là viên quan phụ trách những kho ấy.
Năm 1812 dựng Cột cờ Hà Nội ở phía nam thành
Năm 1835, vì cho răng thành Hà Nội cao hơn kinh thành Huế, Minh Mạng cho xén bớt 1 thước 8 tấc, thành Hà Nội chỉ còn cao chừng 5 m
Năm 1848, vua Tự Đức cho tháo dỡ hết những cung điện còn lại ở Hà Nội chuyển vào Huế
CẤU TRÚC QUA TỪNG THỜI KỲ
ĐOAN MÔN NGÀY NAY
ĐOAN MÔN NGÀY XƯA
Kiến trúc, công dụng ( mục đích sử dụng) của Đoan Môn qua các thời kỳ
KIẾN TRÚC
Kiến trúc cổ xưa
Tầng dưới cùng của Đoan Môn được xây theo lối tường thành cổ với 5 cổng thành được dựng cuốn vòm cân xứng gần như tuyệt đối qua “trục thần đạo”, hay còn được gọi là “trục chính tâm” của Hoàng thành.
- 3 cổng thành chính giữa vạch thành 3 đường hầm thẳng song song với “trục thần đạo”. Trong khi đó, - 2 đường hầm ngách ở 2 bên được xây theo hình chữ L úp vào nhau.
Cổng chính giữa là nơi nhà vua xuất giá mỗi khi có việc kinh lý hoặc vi hành thăm thú nhân gian. Phía trên cổng chính giữa còn lưu giữ được tấm biển đá ghi 2 chữ Hán “Đoan Môn” được một số học giả xác định có từ thời Lý
Kiến trúc cuốn vòm ở các cổng thành không chỉ mang lại những đường cong duyên dáng, mà còn có kết cấu chịu lực cực tốt. Cho đến ngày nay, những công trình đường hầm hiện đại nhất, kỳ vĩ nhất trên thế giới cũng vẫn sử dụng lối kiến trúc này.
GẠCH VỒ
Mỗi cổng thành ở đây đều được cuốn vòm bằng gạch vồ và đá tảng, ghè đẽo hết sức công phu. Những viên gạch vồ và đá tảng này xếp chồng khít với nhau tới mức một sợi tóc cũng khó bề lọt qua. Khắp bề mặt tường thành từ ngoài vào trong đều được xếp phẳng tới mức đáng kinh ngạc. Tất cả những điều ấy cho thấy trình độ cao của phường thợ xây thành Thăng Long thuở trước.

Lối xây dựng 5 cổng thành như miêu tả ở trên không chỉ mang ý nghĩa “hội tụ” về triều đình, mà còn giúp đoàn quân hộ giá nhà vua triển khai đội ngũ tề chỉnh hơn.
Trên hết, nếu nhìn từ trên cao sẽ thấy, lối xây dựng ấy mang lại khối kiến trúc cổng thành hình chữ U xoay hướng chầu về triều đình với thế đứng cực kỳ vững chãi.

Các cánh cổng thành được dựng từ những phiến gỗ lim nguyên khối dày gần bằng một gang tay người lớn. Những cánh cửa đồ sộ được lắp chạy trên một hệ thống bánh xe lớn và chắc chắn bằng gỗ có bịt thép xung quanh và cột xoay được lắp đặt vào những cối kê bằng đá nguyên khối đục lỗ tạo thành.
Do không phải là cửa treo nên hệ thống cửa thành ở đây được bảo vệ bằng hệ thống chốt ngang-chốt dưới y hệt cấu trúc cửa nhà cổ.
Hai bên cửa thành, ở phía trong, có 2 lỗ then bằng đá hình vuông gắn trực tiếp vào tường thành, kích thước mỗi cạnh khoảng 20cm. Khi đóng cửa thành, người ta sẽ dùng một thanh gỗ lớn chẹn ngang qua hai lỗ then này.
Những tảng đá ở giữa, phía dưới cánh cửa thành cũng được đục những lỗ tròn lớn. Đây có lẽ là dấu vết của lỗ then cửa dọc theo mô tuýp then cửa nhà của người Việt Nam mà ta vẫn gặp trong các công trình nhà ở hiện nay.

Kiến trúc phục dựng của đời sau
Tầng lầu thứ hai có hệ thống cửa phía trong và phía ngoài phong phú, chia tầng lầu thành nhiều khoang nhỏ. Trước đây, tầng lầu này có mái xếp chéo rất duyên dáng, làm nổi bật hai tầng mái cong bên trên.
Tầng lầu thứ hai có khuôn viên rất rộng hai bên, được trang trí bằng những ô đất trồng thảm cỏ, cây xanh...
Phía trên cửa chính giữa tầng lầu thứ hai được đắp nổi ba chữ Hán: “Ngũ môn lầu”, nghĩa là “Lầu năm cửa”. Bởi vậy, nhiều người vẫn gọi Đoan môn là “Ngũ môn lầu”.
Tầng lầu thứ ba trổ cửa vòm ba hướng, mái lợp hai tầng tám mái, bốn góc mái tầng hai được trang trí bằng rồng cuốn. Những công trình dành cho nhà vua thường được trang trí bằng hình tượng rồng cuốn như thế này.
Trên tầng lầu thứ ba đặt một ban thờ nhỏ.
Đoan môn ẩn hiện dưới rợp bóng cây cổ thụ, càng làm nổi bật vẻ rêu phong, cổ kính của công trình này.
CÔNG DỤNG
- Thời cổ xưa Đoan Môn là nơi nhà vua xuất giá mỗi khi có việc kinh lý hoặc vi hành thăm thú nhân gian, nơi các quan lại trong triều đình đi lại, ra vào cung thành; nơi diễn ra nhiều nghi thức như nghi thức thị Đình
- Ngày nay, Đoan Môn là 1 trong những di tích còn khá nguyên vẹn mang dấu ấn lịch sử qua nhiều triều đại của Việt Nam trong quần thể Hoàng Thành Thăng Long. Và Đoan Môn còn là 1 điểm du lịch thu hút nhiều du khách trong nước và nước ngoài

Khảo cổ phía dưới cửa Đoan Môn
Qua tiến hành khai quật và khảo cổ, các nhà khoa học đã xác định được các lớp di tích nằm chồng chất lên nhau bên dưới hoang thành Thăng Long. Có các lớp: lớp hiện đại ,lớp văn hóa thời Nguyễn có thể là lớp đất tôn nền sân thời Nguyễn

Lớp văn hóa thời Lê có độ dày 55cm - 60cm, gồm có nhiều lớp đất khác nhau xếp chồng lên nhau. Lớp văn hóa này có hai lớp nhỏ hơn gồm các lớp đất thời Lê Trung Hưng( dày 35 cm) , thời Lê Sơ( dày 30 cm). Thời Lê Sơ tìm thấy nền đất sét đắp khá kỹ ở tất cả các hố, dấu tích nền gạch vồ chủ yếu màu đỏ. Thời Lê Trung Hưng đã
xác định dấu tích 2 móng kiến trúc có các móng trụ kích thước rất lớn.

Lớp văn hóa Lý - Trần nằm ở độ sâu 1,75m đến 4,2m, xuất hiện nhiều dấu tích kiến trúc thời Trần chồng lên kiến trúc thời Lý và thời Đại La. Còn lớp văn hóa Đại La chứa nhiều di vật khảo cổ là gạch ngói xám và đồ gốm.

Trong các tầng văn hóa, bước đầu xác định các di tích kiến trúc của các thời kỳ xuất lộ dày đặc, chồng xếp lên nhau, cắt phá và đan xen lẫn nhau vô cùng phong phú, phức tạp.

Dấu tích thời Đinh, Tiền Lê và Đại La chứa nhiều di vật gạch ngói màu xám, đặc biệt là đồ gốm có nguồn gốc từ Dương Xá.
Giếng cổ thời Đại La ở hố B9-B5
Gạch "Đại Việt quốc quân thành chuyền" (gạch xây thành nước Đại Việt) thời Đinh - Lê, thế kỷ 10, tìm thấy ở hố A1


Dấu tích kiến trúc thời Lý gồm: đường nước xây bằng gạch vuông, gạch bìa, cọc gỗ chạy suốt chiều Đông – Tây của hố khai quật rộng 2m cao 2m; dấu tích móng tường chạy song song với đường nước theo chiều Đông – Tây, rộng 1,6m.
Dấu tích móng trụ và sân nền lát gạch thời Lý ở trục trung tâm, với 14 móng trụ sỏi, chạy theo hướng Đông - Tây.

Đường nước thời Lý
Đoạn đuờng lát gạch ở phía Đông khu A
Chân tảng đá kê cột đặt trên trụ sỏi ở kiến trúc thời Lý hố A20
Chi tiết "trụ móng sỏi"
Ở thời Trần, xuất hiện 3 kiến trúc có móng trụ được xây cất bằng ngói vụn, dấu tích tường bao, dấu tích bồn hoa. Nền móng tường có gạch xếp theo kỹ thuật so le mạch, cứ 1 viên ngang lại 1 viên dọc, lõi tường được đổ đất sét vàng, dẻo quánh và đầm nện kiên cố. Đặc biệt, trong năm 2013 cũng tìm thấy một cống nước rất lớn thời Trần có một đoạn chạy song song với đường nước thời Lý năm 2012.
Chi tiết đoạn cống thoát nước lớn thời Trần ở hố D7
Chi tiết 1 viên gạch hoa chanh
Miệng cống với 1 viên gạch hoa lót đáy cống và kĩ thuật xây so le mạch
Con đường lát gạch hoa chanh
Dấu tích kiến trúc thời Nguyễn: cống thoát nước dài 2m rộng 1,1m gồm có 2 thành cống được xếp bằng đá xanh và gạch vồ xám.
Đặc biệt tại khu vực cổng thành Đoan môn, ở hồ đào phía bắc, ở độ sâu 1,20m, đã tìm thấy sân nền được lát gạch vồ thời Lê và gồm có 9 hàng, ôm khít chân tường Đoan Môn, trong đó hàng ngoài cùng lát phẳng tạo thành đường đi, các hàng trong lát chéo cao dần lên tạo nền móng vững chắc để xây tường gạch bên trên. Thăm dò các vị trí khác quanh chân tường Đoan Môn đều thấy có đường viền lát đá này.
Đường đá lát và sân gạch này thuộc thời Lê (có thể được bắt đầu từ thời Lê sơ). Nó được nhà Nguyễn tiếp thu và sửa sang tu bổ. Vào thời Pháp thuộc, cuối Thế kỷ XIX, nó đã bị san lấp khoảng 1m để xây cất các công trình khác. Nếu trong tương lai, ta làm phát lộ toàn bộ ở độ sâu 1m sẽ khôi phục lại được cốt nền của thời Lê với đường viền lát đá còn khá nguyên vẹn và sân nền gạch cổ lát bằng gạch vồ.
Ở độ sâu 1,90m đã gặp một đoạn đường đi được lát bằng gạch bìa nằm ở chính giữa cửa Đoan Môn và chạy dài theo hướng Bắc - Nam dài 15,80m.
Cấu trúc của con đường gồm có 3 phần: móng đường, nền đường và mặt đường.
-Phần móng ở vị trí hố giám sát được tạo bởi 12 lớp gồm nhiều loại vật liệu khác nhau (sỏi, gạch ngói vỡ, bao nung gốm v.v…) tạo thành một lớp móng dày 0,86m rất chắc chắn.
- Phần nền được tạo bởi 5-6 lớp gạch chồng lên nhau.
- Phần mặt đường gồm có hai đường biên và lòng đường. Hai đường biên được tạo bởi gạch và ngói xếp thành các ô hình hoa chanh cách điệu. Lòng đường rộng 1,30m đã bị phá hủy hết chỉ còn sót các mảnh gạch lát hình vuông trang trí hoa cúc dây.

PHƯƠNG PHÁP BẢO TỒN
• BẢO TỒN VỀ GIÁ TRỊ LỊCH SỬ.
Cổng Đoan Môn là một tài sản vô giá trong kho tàng di sản văn
• BẢO TỒN VỀ KIẾN TRÚC.
Phương pháp bảo tồn :
• Về mặt tổng quan di tích:
• Phải khảo sát toàn bộ di tích ( cả phần bảo tồn và phục dựng ) để xác định độ vững chắc của công trình, phân tích các tính chẩ của đất bên dưới công trình để đánh giá độ sụt lún của nền móng,…từ đó ta tìm ra các biện pháp kịp thời để gia cố nền móng công trình, tạo hệ thống khung chống đỡ các cấu kiện chịu tải trong di tích nếu vào trường hợp cấp thiết.
• Áp dụng các biện pháp kỹ thuật để bảo quản di tích như cách ly chống thấm, chống ẩm, thiết kế các rãnh thoát nước xung quanh di tích để tráng ngập nước, nhưng phải tính toán, đảm bảo tính bền vững của di tích, không làm ảnh hưởng đến nền móng của di tích, tránh sụt lún nghiêm trọng.


• Về mặt bảo tổn kiến trúc di tích :
-Vật liệu xây dựng công trình ( gạch vồ và đá cuốn vòm cửa ):
+ Tình trạng : rêu mốc phát triển, nứt vỡ bề mặt.
+ Biện pháp :
. Đá vồ : Thường xuyên lau chùi, vệ sinh sạch sẽ bề mặt -> tránh các loại rêu mốc phát triển.



. Đá cuốn vòm cửa :
Kiểu kiến trúc cuốn vòm có kết cấu chịu lực cực tốt, tuy nhiên qua thời gian, cần phải thường xuyên kiểm tra tình trạng của mái vòm, nếu có hiện tượng sụt lún, nứt vỡ bề mặt, ngấm nước từ khuôn viên trên tầng 2 -> Phải có biện pháp xử lý như gia cố hay thay mới nếu vào tình huống bắt buộc.
- Con đường lát gạch hoa chanh của Vua ( Trục thần đạo ).
+ Tình trạng:
Năm 2000
Năm 2004


Một viên gạch đá hoa chanh bị lệch
Các viên gạch bị sô lệch khuyết mất một cánh. khi sử dụng máy bơm.

Hố ga thoát nước nhỏ không đủ để chống chọi với các trận mưa kéo dài.
. Vì thời tiết, khí hậu nước ta là mưa nhiều, đồng thời việc quản lý, bảo tồn kém ( 2000- 2004 ), k có hệ thống thoát nước tốt nên xảy ra tình trạng là con đường thường xuyên bị ngập nước, rêu mốc.
. Khi dùng máy bơm, dòng xối đã làm sụt một phần con đường. Cũng vì thế nên nhiều viên gạch lát hoa chanh không còn nguyên vẹn.
+ Biện pháp :
. Sử dụng mái che có kính, che phủ bề mặt hố vừa có tác dụng ngăn chặn nước mưa, vừa có thể quan sát được di tích bên dưới.
. Thiết kế các rãnh thoát nước hợp lý bên trong, ngăn không cho hố bị ngập.
. cọ rửa rêu mốc bám trên bề mặt di tích.
. Phục dựng lại con đường. ( Do đoạn đường chỉ bị sụt lún nên ta có thể bóc gạch ra, đầm lại nền rồi lát lại.).

+ Tình trạng : Nhìn trung cầu thang vẫn kiên cố, do thời tiết khí hậu khắc nghiệt, 2 bên cầu rã bị nấm mốc rêu, có tình trang trơn trượt nếu có trời mưa.
+ Biện pháp :
. Lau chùi bề mặt cầu thang định kỳ bằng các chất tẩy rửa để diệt nấm mốc rêu.( tuy nhiên phải sử dụng cẩn thận, tránh phá hoại bề mặt do các chất phụ gia có trong thuốc.)
. Thường xuyên kiểm tra, bảo dưỡng định kỳ bề mặt cầu thang, nếu phát hiện tình trang nứt vỡ do vấn đề thời gian thì cần phải có biện pháp xử lý, gia cố kịp thời, thay mới nền gạch khác có hình dạng, màu sắc tương đồng nếu cần thiết.

Cầu thang dẫn lên tầng 2
- Tầng 2
+ Lầu 2 :
. Thường xuyên kiểm tra độ chắc chắn của công trình.
. Vì công trình ở ngoài trời, chịu sự ảnh hưởng trực tiếp của môi trường và khí hậu, cho nên rất dễ bị hoen ố, nấm mốc, ngả màu…VÌ vậy, cần phải duy trì màu sắc vốn có của nó, nếu có hiện tượng mưa kéo dài, cần phải che chắn để bảo đảm công trình không bị hư hại.
. Mặt sàn giữa tầng 2 với tầng 1: Xử lý hệ thống thoát nước bề mặt cho hợp lý hơn, tránh tình tràng ứ đọng nước, ngấm nước xuống sàn và làm khả năng chịu lực của sàn bị hạn chế.


+ Khuôn viên :
. Giải quyết vấn đề cấp thoát nước phải đặt lên hàng đầu.
. Thường xuyên giữ cảnh quan luôn sạch đẹp.
. Đối với những cây cổ thụ, cần phải có hình thức chăm sóc, bảo vệ cây, gia cố sức chịu đựng cho cây trong điều kiện khí hậu khác nhau như gió, bão,…

. Đối với những cây nhỏ, cần phải chăm sóc thường xuyên, khi xảy ra mưa bão, cần sử dụng các vật dụng cần thiết để giữ cây luôn vững chắc. ( Ví dụ : sử dụng nẹp để giữ cây không bị đổ ngã, bật gốc,…

1. Hoàng Thành Thăng Long
a. Giá trị lịch sử
+ Là minh chứng đặc sắc về quá trình giao lưu văn hóa lâu dài, là nơi tiếp nhận nhiều ảnh hưởng văn hóa từ bên ngoài, nhiều học thuyết, tư tưởng có giá trị toàn cầu của văn minh nhân loại để tạo dựng nên những nét độc đáo, sáng tạo của một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của quốc gia
+ Là minh chứng duy nhất về truyền thống văn hóa lâu đời của người Việt ở vùng châu thổ sông Hồng qua các thời kỳ lịch sử,
+ Có liên hệ trực tiếp với nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của quốc gia trong mối quan hệ với khu vực và thế giới.
=> Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội gần như là một "bộ lịch sử sống" chảy suốt theo cả chiều dài lịch sử hơn 10 thế kỷ của Thăng Long- Hà Nội, kể từ thành Đại La thời tiền Thăng Long đến thời đại ngày nay.

b. Gía trị Kiến trúc
+Là sự kết hợp kiến trúc của các triều đại lịch sử,qua đó ta có thể thấy nét đẹp kiến trúc của từng thời mà thế hệ sau cần phải gìn giữ và bảo tồn
+ Các hình thù,điêu khắc,trạm trổ có thể thấy rõ sự tinh tế về giá trị nghệ thuật
+ Kết cấu vững chắc đặc biệt là cổng thành (Đoan Môn) được xây dựng bằng đá,xếp xen kẽ,cửa mái vòm..qua các cuộc đấu tranh cổng thành vẫn vững chắc,bởi việc xây dựng cổng thành một cách chắc chắn ,tỉ mỉ và có sự tính toán từ thời Đại La kiên cố cho đến nay giá trị kiến trúc của nó rất đặc biệt=> sự tài hoa và nền kiến trúc đặc sắc
+
Những tầng văn hóa khảo cổ, di tích kiến trúc và nghệ thuật của HTTL phản ánh một chuỗi lịch sử nối tiếp nhau liên tục của các vương triều cai trị đất nước Việt Nam. Trên thế giới rất hiếm tìm thấy một di sản thể hiện được tính liên tục dài lâu như vậy của sự phát triển chính trị, văn hóa như tại khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Noi
Tổng thế kiến trúc Hoàng Thành Thăng Long là sự hình thành kết hợp của nhiều hình thức kiến trúc qua các thời đại lịch sử

2. Đoan Môn
a. Gía trị lịch sử
+ Là cổng chính ra vào của nhà vua và quan quân,nó thể hiện tầm quan trọng và sự uy nga vững chắc mang ý nghĩa hội tụ về triều đình
+ Tồn tại qua các triều đại lịch sử vẫn giữ được những nét chính
+ Hai tầng lầu là nơi vua ngự giá để cổ vũ tinh thần binh sỹ, đón binh sỹ trở về hay xem văn nghệ ở phía dưới
Cần được bảo tồn, gìn giữ giá trị lâu bền của Đoan Môn

b. Gía trị kiến trúc
Đây là cổng chính vào Khu di tích Hoàng thành Thăng Long, cũng là cổng chính vào Hoàng thành xưa kia. Đoan Môn có 1 cổng vòm to chính giữa và 4 cổng vòm nhỏ hai bên . Phía trên có thành lâu để quan sát. Đoan Môn được xây theo hướng chính Nam, là hướng các triều vua đều chọn làm cổng chính Hoàng thành
Kiến trúc cuốn vòm ở các cổng thành không chỉ mang lại những đường cong duyên dáng, mà còn có kết cấu chịu lực cực tốt. Cho đến ngày nay, những công trình đường hầm hiện đại nhất, kỳ vĩ nhất trên thế giới cũng vẫn sử dụng lối kiến trúc này.
Mỗi cổng thành ở đây đều được cuốn vòm bằng gạch vồ và đá tảng, ghè đẽo hết sức công phu. Những viên gạch vồ và đá tảng này xếp chồng khít với nhau tới mức một sợi tóc cũng khó bề lọt qua. Khắp bề mặt tường thành từ ngoài vào trong đều được xếp phẳng tới mức đáng kinh ngạc. Tất cả những điều ấy cho thấy trình độ
cao của phường thợ xây thành Thăng Long thuở trước.
Trên hết, nếu nhìn từ trên cao sẽ thấy, lối xây dựng ấy mang lại khối kiến trúc cổng thành hình chữ U xoay hướng chầu về triều đình với thế đứng cực kỳ vững chãi.
Các cánh cổng thành được dựng từ những phiến gỗ lim nguyên khối dày gần bằng một gang tay người lớn. Những cánh cửa đồ sộ được lắp chạy trên một hệ thống bánh xe lớn và chắc chắn bằng gỗ có bịt thép xung quanh và cột xoay được lắp đặt vào những cối kê bằng đá nguyên khối đục lỗ tạo thành.
Do không phải là cửa treo nên hệ thống cửa thành ở đây được bảo vệ bằng hệ thống chốt ngang-chốt dưới y hệt cấu trúc cửa nhà cổ.

THỜI KỲ NHÀ LÝ
Long Thành và Cấm Thành là trung tâm chính trị của Kinh Thành. Phía ngoài, cùng với một số cung điện và chùa tháp là khu vực cư trú, buôn bán, làm ăn của dân chúng gồm các bến chợ, phố phường và thôn trại nông nghiệp. Một vòng thành bao bọc toàn bộ khu vực này bắt đầu được xây đắp từ năm 1014, gọi là thành Đại La hay La Thành.
THỜI KỲ LÊ VÀ NGUYỄN
Bản đồ năm 1490
Thời Lê sơ, Hoàng Thành nhiều lần được tu bổ và mở rộng thêm mà trung tâm điểm là điện Kính Thiên dựng năm 1428, xây lại năm 1465 với lan can bằng đá chạm rồng năm 1467 nay vẫn còn trong thành Hà Nội. Năm Hồng Đức thứ 21 (1490), vua Lê Thánh Tông định bản đồ cả nước gồm 13 thừa tuyên và phủ Trung Đô tức thành Đông Kinh thời Lê sơ. Tập Bản đồ Hồng Đức còn lại đến nay đã qua nhiều lần sao chép lại về sau, nhưng vẫn là tập bản đồ xưa nhất của nước Đại Việt, trong đó có bản đồ thành Đông Kinh. Qua bản đồ này, có thể hình dung được qui mô và cấu trúc của Hoàng Thành và Cấm Thành của thành Thăng Long thế kỷ XV cùng một số cung điện đương thời.

Sang thời Nguyễn, thành Hà Nội do vua Gia Long xây năm 1805 theo kiểu Vauban không những hạ thấp độ cao mà còn thu nhỏ về qui mô so với Hoàng Thành của Thăng Long xưa. Tuy nhiên trục trung tâm Đoan Môn Kính Thiên của Hoàng Thành Thăng Long thời Lê vẫn không thay đổi và trên trục này thêm Cột Cờ, Cửa Bắc thời Nguyễn.

THỜI KỲ THỰC DÂN PHÁP CHIẾM ĐÓNG
Bản đồ năm 1990
Sau khi chiếm thành Hà Nội và biến nơi đây thành khu quân sự, người Pháp tiến hành mở một trục đường nối khu Nhượng địa với khu vực Hoàng Thành cũ qua khu vực Tràng Thi cũng đã bị biến thành doanh trại của binh lính Pháp. Con đường sau này trở thành trục chính chi phối hoạt động xây dựng của người Pháp trong nhiều năm tiếp theo. Mở đầu là việc mở ra tuyến phố Paul Bert (phố Tràng Tiền – Hàng Khay ngày nay ) nằm trên trục đường đó trong những năm 1884 – 1886 với đường phố rộng rãi được trải nhựa, hai bên mặt phố xây dựng các cửa hàng buôn bán và dịch vụ đô thị, mở đầu cho việc hình thành Khu phố Pháp ở Hà Nội.
Trong giai đoạn này, khu vực phía Tây Hoàng thành cũ được tiếp tục hoàn thiện. Các lô đất lớn được lập đầy bởi các công trình kiến trúc công cộng, như trườn Albert Saraut, trường Nữ học Pháp, đặc biệt là Sở Tài chính Đông Dương do chính E.Hébrard thiết kế theo phong cách kiến trúc Đông Dương. Các lô đất nhỏ hơn được dành xây cất biệt thự dành cho người Pháp, chủ yếu theo phong cách Art Deco và một số theo phong cách Địa phương Pháp. Các quảng trường, vườn hoa cũng được hoàn thiện góp phần tạo ra hình thái đô thị đặc trưng của khu vực này.
Về phía bắc Hoàng thành cũ, một hệ thống các đường phố mới cũng được mở ra từ đại lộ Carnot (phố Phan Đình Phùng) nối với đại lộ Grand Bouddha (phố Quán Thánh) ra tới bờ sông Hồng và bờ hồ Trúc Bạch với những ô phố tương đối nhỏ dành để xây dựng nhà ở cho giới tư sản và tiểu tư sản người Việt.

Bản đồ năm 1943
Bản đồ thành Đông Kinh thời Lê Sơ, so sánh với bản đồ Hà Nội ngày nay, đoạn màu tím chấm đã bị phá hủy. Thành phía trong là đoạn Hoàng thành Thăng Long thời Lê sơ và có thể xác định chính là đường Hoàng Hoa Thám hiện nay, từ vườn hoa Bách Thảo đến Bưởi (màu tím liền)
Full transcript