Loading presentation...

Present Remotely

Send the link below via email or IM

Copy

Present to your audience

Start remote presentation

  • Invited audience members will follow you as you navigate and present
  • People invited to a presentation do not need a Prezi account
  • This link expires 10 minutes after you close the presentation
  • A maximum of 30 users can follow your presentation
  • Learn more about this feature in our knowledge base article

Do you really want to delete this prezi?

Neither you, nor the coeditors you shared it with will be able to recover it again.

DeleteCancel

Make your likes visible on Facebook?

Connect your Facebook account to Prezi and let your likes appear on your timeline.
You can change this under Settings & Account at any time.

No, thanks

BÀI THUYẾT TRÌNH MÁC-LÊNIN

No description
by

Gummi Gấu

on 15 April 2015

Comments (0)

Please log in to add your comment.

Report abuse

Transcript of BÀI THUYẾT TRÌNH MÁC-LÊNIN

Tư bản bất biến và tư bản khả biến
a/ Tư bản bất biến
-Bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái tư liệu sản xuất mà giá trị được bảo tồn và chuyển vào sản phẩm, giá trị không thay đổi về lượng trong quá trình sản xuất.
-Bao gồm : máy móc, nhà xưởng, nguyên, nhiên, vật liệu.
-Đặc điểm:
+Gía trị của chúng được bảo tồn và chuyển dịch nguyên vẹn vào giá trị sản phẩm.
Vd: 2kg mía -> 2kg đường
+Gía trị tư liệu sản xuất được bảo tồn dưới hình thức giá trị sử dụng mới.
Vd: miếng vải-> cái áo
-Tư bản bất biến kí hiệu là c.

BÀI THUYẾT TRÌNH MÁC-LÊNIN


HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ
Thành viên: Trần Ngọc Anh
Mai Lê Tú Quỳnh
Đỗ Thị Thùy Anh
Huỳnh Thị Ngọc Dung
Aysah
Vũ Thị Phương

NỘI DUNG
Quá trình sản xuất giá trị thặng dư
Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
Biểu hiện của quy luật giá trị thặng dư trong các gia đoạn phát triển của CNTB
-Sản lượng của hàng hóa làm ra có giá trị cao hơn phần tiền mà nhà tư bản trả cho công nhân và mức chênh lệch đó chính là giá trị thặng dư.
-Giá trị thặng dư phản ánh bản chất cùa quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa-quan hệ bóc lột của nhà tư bản đối với lao động làm thuê,nguồn gốc làm giàu của các nhà tư bản.

GIÁ TRỊ THẶNG DƯ LÀ GÌ?
Giả sử một người lao động trong một giờ làm ra được giá trị sản phẩm là 1000 đồng. Đến giờ thứ hai trở đi, trên cơ sở sức lao động đã bỏ ra ở giờ thứ nhất, người lao động đó sẽ làm ra được 1100 đồng. Số tiền chênh lệch đó chính là giá trị thặng dư sức lao động.
Giả sử 1 người lao động có trong tay giá trị nguyên vật liệu là 100000đ. Trên cơ sở sức lao động đã bỏ ra, người lao động đó sẽ làm ra được sản phẩm mới có giá trị 110000đ. Số tiền 10000đ chênh lệch đó là giá trị thặng dư sức lao động. Tuy nhiên nhà tư bản chỉ trả cho anh ta 5000đ/sp, có nghĩa 5000đ còn lại là phần nhà tư bản chiếm của người lao động.
Quá trình sản xuất giá trị thặng dư
I/Sự thống nhất giữa quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư
-Quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự thống nhất giữa quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng với việc tạo ra giá trị và giá trị thặng dư.
-Là qui luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản.
-Là sự kết hợp giữa:
+Quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng
+Quá trình lớn lên của giá trị
-->Quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư chỉ là quá trình mà giá trị sức lao động do nhà tư bản trả được hoàn lại bằng 1 vật ngang giá mới.

Kết luận từ quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư
A.Giá trị sản phẩm được sản xuất có 2 phần:
+Giá trị cũ: Giá trị những tư liệu sản xuất nhờ lao động cụ thể được bảo toàn và di chuyển vào sản phẩm mới.
+Giá trị mới: Giá trị do lao động tạo ra trong quá trình sản xuất.

--> GIÁ TRỊ MỚI = GIÁ TRỊ SỨC LAO ĐỘNG + GIÁ TRỊ THẶNG DƯ
B.Ngày lao động của công nhân chia làm 2 phần:
+Thời gian lao động cần thiết:Phần lao động mà người công nhân tạo ra 1 lượng giá trị ngang bằng với giá trị sức lao động.
+Thời gian lao động thặng dư:Phần còn lại của ngày lao động và lao động trong khoảng thời gian đó.




C.Mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản được giải quyết
Việc chuyển hóa của tiền thành tư bản diễn ra trong lưu thông, chỉ trong lưu thông nhà tư bản mới mua được 1 hàng hóa đặc biệt chính là sức lao động và dùng chính hang hóa đó tạo ra giá trị thặng dư cho bản thân nhà tư bản.

II/ Bản chất của tư bản. Sự phân chia tư bản.
Tư bản gồm có nguyên liệu, công cụ lao động và đủ loại tư liệu sinh hoạt; chúng được dùng để sản xuất ra những nguyên liệu, công cụ lao động và tư liệu sinh hoạt mới. Tất cả những bộ phận đó của tư bản đều do lao động tạo ra, là sản phẩm của lao động.
-VD: cày,dao,cuốc,…

Qúa trình sản xuất giá trị thặng dư
Tư bản còn là những giá trị trao đổi,là hàng hóa.
-VD: Con người dùng những nguyên liệu họ có được như vải, dao, kéo trao đổi để lấy thứ họ cần như muối, gạo…
- Tư bản cũng là một quan hệ sản xuất xã hội. Đó là quan hệ sản xuất tư sản, quan hệ sản xuất của xã hội tư sản, được sản xuất và tích lũy dưới những điều kiện xã hội nhất định, những quan hệ xã hội nhất định.
-VD: Từ những cây mía người nông dân thu hoạch được, họ đem chúng đến các nhà máy nơi mà chúng được các công nhân sản xuất ra các sản
--> Bản chất của tư bản là phản ánh quan hệ sản xuất xã hội mà trong đó giai cấp tư sản chiếm đoạt giá trị thặng dư do giai cấp công nhân sang tạo ra.
b/ Tư bản khả biến
-Bộ phận tư bản biến thành sức lao động không tái hiện ra, nhưng thông qua lao động trừu tượng của công nhân làm thuê mà tăng lên, tức là biến đổi về lượng.
-Tư bản khả biến tồn tại dưới hình thức tiền lương.
-Tư bản khả biến kí hiệu là v.

*Cơ sở của việc phân chia: là nhờ tính chất 2 mặt của lao động sản xuất ra hàng hóa.
+Lao động cụ thể: bảo tồn và chuyển dịch giá trị của tư liệu sản xuất.
+Lao động trừu tượng: tạo ra giá trị mới.
*Ý nghĩa của việc phân chia: việc phát hiện ra tính chất 2 mặt của lao động sản xuất hàng hóa đã xác định sự khác nhau giữa TBBB và TBKB.

+Sự phân chia đó vạch rõ nguồn gốc của m(giá trị thặng dư): chỉ có bộ phận tư bản khả biến mới tạo ra giá trị thặng dư, còn tư bản bất biến chỉ là điều kiện cần thiết để tiến hành sản xuất.
+Sự phân chia đó cho thấy vai trò của mỗi bộ phận tư bản trong việc tạo ra giá trị hàng hóa.Gía trị của hàng hóa gồm: C + V + M.

Tỉ suất giá trị thặng dư và khối lượng giá trị thặng dư.
a/Tỉ suất giá trị thặng dư
-Là tỉ số tính theo phần trăm giữa giá trị thặng dư và tư bản khả biến tương ứng để sản xuất ra giá trị thặng dư đó.

-Trong đó:
m’ : tỉ suất giá trị thặng dư
-Công thức này cho ta biết :
+Với sức lao động bỏ ra người công nhân hưởng bao nhiêu, nhà tư bản chiếm được bao nhiêu.
+Thời gian lao động thặng dư của công nhân chiếm bao nhiêu phần trăm so với thời gian lao động tất yếu.

Ta có thể dùng công thức khác:

m’ = Thời gian lao động thặng dư × 100%
thời gian lao động tất yếu

-Mục đích của công thức: trình độ bóc lột của tư bản với công nhân làm thuê.

b/ Khối lượng giá trị thặng dư
-Khối lượng giá trị thặng dư là tích số giữa tỉ suất giá trị thặng dư và tổng tư bản khả biến đã được sử dụng.

->Chủ nghĩa tư bản càng phát triển thì khối lượng giá trị thặng dư càng tăng, vì trình độ bóc lột sức lao động càng tăng.
Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
A) Phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối
B) Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối
C) Giá trị thặng dư siêu ngạch
A) Phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối
Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được nhờ kéo dài ngày lao động cầu của công nhân trong khi thời gian lao động cần thiết là không đổi
-->Phương pháp nâng cao trình độ bóc lột bằng cách kéo dài ngày lao động một cách tuyệt đối như vậy gọi là phương pháp suất giá trị thặng dư.
Có nghĩa là khi nhà tư bản muốn tăng giá trị thặng dư họ sẽ
- Mua thêm máy móc, tư liệu sản xuất
- Thuê thêm công nhân
- Chỉ mua nguyên liệu sản xuất
- Bắt công nhân cung cấp một lượng lao động
- Tận dụng triệt để công suất của máy móc hiện có.

Vậy nhà tư bản sẽ không cần ứng thêm tư bản, máy móc thiết bị sẽ được khấu hao nhanh hơn, chi phí bảo quản giảm đi rất nhiều và thời gian thu lợi nhuận sẽ dài hơn
Giai cấp tư sản muốn kéo dài thời gian lao động >< giai cấp công nhân muốn rút ngắn thời gian lao động.
---> Từ mâu thuẫn này đã xuất hiện nhiều cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân về thời gian lao động, giảm giờ làm và tăng lương
B) Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối
Sản xuất giá trị thặng dư tương đối là phương pháp sản xuất ra giá trị thặng dư được thực hiện bằng cách rút ngắn thời gian lao động tất yếu để kéo dài một cách tương ứng thời gian lao động thặng dư trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội trong điều kiện độ dài ngày lao động không đổi. giá trị thặng dư được sản xuất ra bằng phương pháp này được gọi là giá trị thặng dư tương đối.

--->như vậy tỷ suất giá trị thặng dư đã tăng từ 100% lên 300%
Trong giai đoạn đầu cầuủa chủ nghĩa tư bản, sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là phương pháp chủ yếu thì đến giai đoạn tiếp sau, khi kĩ thuật phát triển, sản xuất giá trị thặng dư tương đối là phương pháp chủ yếu.
Lịch sử phát triển của lực lượng sản xuất và cầu của năng suất lao động xã hội dưới chủ nghĩa tư bản đã trải qua 3 gia đoạn.
Phương pháp giá trị thặng dư tương đối ngày càng được nâng cao do các cuộc cách mạng khoa học đặc biệt là cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển với tốc độ vũ bão đem lại sự phát triển chưa từng có trong lịch sử loài người. điều đó cũng đồng nghĩa với việc lao động phức tạp tăng lên và thay thế cho lao động giản đơn; lao động tri óc, lao động có trình độ kĩ thuật cao ngày càng có vai trò quyết định đến việc sản xuất gía trị thặng dư. Ngày nay việc tự động hóa sản xuất làm cho cường độ lao động tăng lên nhưng dưới hình thức mới, sự căng thẳng của thần kinh thay cho cường độ lao động cơ bắp
C) Giá trị thặng dư siêu ngạch
Giá trị thặng dư siêu ngạch là phần giá trị thặng dư thu được do tăng năng suất lao động cá biệt làm cho giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị thường của nó.
- Giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tạm thời đối với doanh nghiệp
- Xét toàn bộ xã hội tư bản thì giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tồn tại thường xuyên.
- Giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối có một cơ sở chung: dựa vào tăng năng suất lao động để rút ngắn thời gian lao động cần thiết.


Khác:
+ siêu ngạch: dựa vào năng suất lao động cá biệt
+ tương đối: tăng năng suất lao động xã hội.

Vì vậy C.Mác gọi giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thái biến tướng của giá trị thặng dư tương đối.
----> Giá trị thặng dư siêu ngạch là động lực trực tiếp của doanh nghiệp trong cạnh tranh.

Biểu hiện của quy luật GTTD trong các giai đoạn phát triển của CNTB
Trong giai đoạn
CNTB tư bản tự do cạnh tranh
quy luật giá trị thăng biểu hiện quy luật tỉ suất lợi bình quân,
bước sang giai đoạn CNĐQ
các tổ chức độc quyền thao túng nền kinh tế bằng giá cả độc quyền và thu được lợi nhuận độc quyền cao.
Do đó quy luật lợi nhuân độc quyền cao chỉ là hình thức biểu hiện của quy luật thăng dư trong giai đoạn đé quốc chủ nghĩa, như vậy sự biển hiện của luật gia trị thặng dư trong giai đoạn đé quốc chủ nghĩa thành quy luật lợi nhuận độc quyền cao chỉ là sự phản ánh quan hệ thống trị và bóc lột của tư bản độc quyền trong tất cả các nghành kinh tế của xã hội tư bản và trên toàn thế giới.
Chủ nghĩa độc quyền nhà nước
là hình thức vận động mới của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa nhằm duy trì sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản làm cho chủ nghĩa tư bản thích nghi với điều kiện mới, ngoài ra CNTB độc quyền biểu hiện thành quy luật giá cả độc quyền, còn quy luật giá trị thặng dư biểu hiện thành quy luật lợi nhuận độc quyền cao.
Full transcript