Loading presentation...

Present Remotely

Send the link below via email or IM

Copy

Present to your audience

Start remote presentation

  • Invited audience members will follow you as you navigate and present
  • People invited to a presentation do not need a Prezi account
  • This link expires 10 minutes after you close the presentation
  • A maximum of 30 users can follow your presentation
  • Learn more about this feature in our knowledge base article

Do you really want to delete this prezi?

Neither you, nor the coeditors you shared it with will be able to recover it again.

DeleteCancel

Make your likes visible on Facebook?

Connect your Facebook account to Prezi and let your likes appear on your timeline.
You can change this under Settings & Account at any time.

No, thanks

tnks

No description
by

Ngô Thị Mỹ Hạnh

on 2 October 2012

Comments (0)

Please log in to add your comment.

Report abuse

Transcript of tnks

TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN Đỗ Thị Thu Hằng
Hoàng Thị Luật
Ngô Thị Mỹ Hạnh
Phan Thị Huyền
Vũ Thị Bích Ngọc NHÓM IV: KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG K53 TRỮ LƯỢNG KHOÁNG SẢN Ở VIỆT NAM Khái niệm Tài nguyên khoáng sản là tích tụ vật chất dưới dạng đơn chất hoặc hợp chất trong vỏ trái đất mà ở điều kiện hiện tại con người có đủ khả năng lấy ra các nguyên tố có ích hoặc sử dụng trực tiếp chúng trong đời sống hằng ngày. (Nguồn: Cơ sở khoa học môi trường – Lưu Đức Hải)
Tài nguyên khoáng sản thường tập trung trong một khu vực goị là mỏ khoáng sản. Tài nguyên khoáng sản có ý nghĩa rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế của loài người. Khai thác và sử dụng tài nguyên khoáng sản có tác động tới môi trường sống THỰC TRẠNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN
Ở VIỆT NAM QUẢN LÍ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN Phân loại Theo dạng tồn tại: rắn, khí (khí đốt, acgon, He), lỏng (Hg, dầu, nước khoáng) Theo thành phần hóa học: khoáng sản kim loại , khoáng sản phi kim loại , khoáng sản cháy Theo nguồn gốc: nội sinh (sinh ra trong lòng đất), ngoại sinh (sinh ra trên bề mặt trái đất) TRỮ LƯỢNG VÀ PHÂN BỐ
TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN Ở VIỆT NAM Khoáng sản cháy Dầu khí - Tiềm năng và trữ lượng dầu khí có khả năng thu hồi của các bể trầm tích Đệ tam của Việt Nam khoảng 4,300 tỷ tấn dầu quy đổi (trữ lượng phát hiện là 1,208 tỷ tấn và trữ lượng dầu khí có khả năng thương mại là 814,7 triệu tấn dầu quy đổi. - Việt Nam đứng hàng thứ ba ở Đông Nam Á sau Indonesia và Malaysia.- Tập trung: Sông Hồng, Cửu Long, Nam Côn Sơn, Malay, Thổ Chu, Phú Khánh, Tư Chính, Vũng Mây, Trường Sa. Than khoáng. - Than biến chất thấp (sông Hồng) tính đến chiều sâu 1700m có tài nguyên trữ lượng đạt 36,960 tỷ tấn. Nếu tính đến độ sâu 3500m thì dự báo tổng tài nguyên than đạt đến 210 tỷ tấn. - Than biến chất trung bình (Thái Nguyên, vùng sông Đà và vùng Nghệ Tĩnh) chỉ gần 80 triệu tấn.- Than biến chất cao (Quảng Ninh, Thái Nguyên, sông Đà, Nông Sơn) với tổng đạt trên 18 tỷ tấn. Bể than Quảng Ninh là lớn nhất với trữ lượng đạt trên 3 tỷ tấn. Địa nhiệt - Việt Nam có nhiều nguồn nước nóng, ở phần đất liền có 264 nguồn có nhiệt độ là 300C trở lên. Các nguồn nước nóng chủ yếu được phân bố ở Tây Bắc, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.
- Ngoài ra nhờ khoan thăm dò, khai thác dầu khí chúng ta cũng phát hiện được nhiều nguồn nước nóng ở dưới sâu thuộc Bể Sông Hồng và Bể Cửu Long. Khoáng sản kim loại Sắt Quặng crôm sa khoáng Quặng Wolfram Đất hiếm Quặng titan Bauxit (cc) photo by theaucitron on Flickr (cc) photo by theaucitron on Flickr - Diaspor (Hà Giang, Cao Bằng,
Lạng Sơn, Hải Dương và Nghệ
An) chỉ đạt gần 200 triệu tấn- Gibsit có nguồn gốc phong
hoá từ đá bazan (Tây Nguyên)
đạt gần 2,1 tỷ tấn (chủ yếu ở Tây Bắc Bộ)
với tổng trữ lượng gần
10 triệu tấn đứng thứ 3 trên thế giới sau Trung Quốc và Mỹ . - Quặng titan gốc trong đá xâm nhập
mafic (Cây Châm, Phú Lương Thái Nguyên)
trữ lượng 4,83 triệu tấn ilmenit và 15 triệu
tấn đang được khai thác.
- Quặng ilmenit trong vỏ phong hoá và sa
khoáng (Phú Lương và Đại Từ Thái Nguyên)
dự báo đạt 2,5 triệu tấn.
-Quặng titan sa khoáng ven biển (rải rác từ
Móng Cái đến Vũng Tàu) tiềm năng lớn,
tài nguyên dự báo đạt hàng trăm triệu tấn. (chủ yếu ở tụ khoáng Đá Liền,
Đại Từ, Thái Nguyên) đạt 110,2
triệu tấn quặng chứa 227.500 tấn
WO3 , 8,5 triệu tấn CàF2,
191.800 tấn Cu, 20,8 tấn Au
và 107.000 tấn Bi (Cổ Định, Nông Cống
Thanh Hoá) với trữ
lượng 22 triệu tấn
đang được khai thác - Hơn 300 mỏ và điểm quặng
sắt,(chủ yếu ở phía bắc: Yên
Bái, Cao Bằng, Thái Nguyên,
Hà Giang, Hà Tĩnh.)-Việt Nam có 2 mỏ thuộc loại
trữ lượng trung bình: Thạch
Khê và Quý Xa. Thiếc - Tam Đảo Tổng: ước tính 13.582 tấn
SnO2 với hàm lượng 273 g SnO2/m3.
Trữ lượng quặng gốc: 45.000 tấn Sn,
45.000 tấn WO3; 17.000 tấn Be và
30.000 tấn Bi.
- Quỳ Hợp: 36.000 tấn cassiterite.
Trữ lượng quặng gốc ước tính tổng
cộng 2.065 tấn thiếc.
- Vùng Đa Chay: ước tính 40,000
tấn Sn và 20.000 tấn WO3. Vàng - Vàng sa khoáng liên quan chặt chẽ với các thành tạo trầm tích sông, suối, từ 200-400 kg mỗi mỏ. Hàm lượng TB khoảng 0,31-2,95 g/m3. Đã phát hiện khoảng 150 mỏ và điểm quặng. Ước tính 5.000 kg và dự báo 11.000 kg.- Vàng gốc: thạch anh- vàng (mỏ Bồ Cu- Thái Nguyên); Thạch anh- sunfua-vàng (Pắc Lạng, Trà Năng, Bồng Miêu); vàng- bạc (Nà Pái, Xà Khía). Hàm lượng TB từ vài g/t đến hàng chục g/t.- Vàng cộng sinh: vàng cộng sinh với antimon, đồng, thiếc, chì, kẽm có ý nghĩa kinh tế hơn cả là vàng trong mỏ đồng Sinh Quyền với gần 35 tấn và hàm lượng TB Au=0,46-0,55 g/t. Khoáng sản phi kim loại Baryt Đá xây dựng Graphit Cát thuỷ tinh Đá vôi xi măng Apatit (cc) image by nuonsolarteam on Flickr (dọc bờ phải sông Hồng,
từ biên giới Việt Trung
đến Văn Bàn), dài trên
100 Km, rộng TB 1 Km,
độ sâu 100m, là 2,5 tỷ
tấn và trữ lượng thăm
dò đạt 900 triệu tấn. (chủ yếu ở miền Bắc Việt Nam)
đi kèm với quặng Pb-Zn và đất
hiếm. Tổng tài nguyên đạt 25
triệu tấn (tụ khoáng Đông Pao,
Lai Châu có 4 triệu tấn). (Lào Cai, Yên Bái và
Quảng Ngãi) tổng tài
nguyên và trữ lượng
đạt gần 20 triệu tấn (phân bố dọc bờ biển )
trữ lượng 750 triệu tấn
với hàm lượng SiO2 rất
cao và hàm lượng
Fe2O3 thấp. (rộng khắp suốt từ Bắc chí Nam,
tập trung từ Quảng Bình trở ra phía
bắc) Diện tích chứa gần 30.000 km2
với 96 mỏ. Trong đó có 28 mỏ có
trữ lượng lớn; 17 mỏ vừa và 54
mỏ nhỏ - Đá magma (miền Trung và miền Nam)
chất lượng tốt, điều kiện giao thông thuận lợi. - Đá trầm tích (nhiều ở miền Bắc và Bắc
Trung bộ) chất lượng tốt, mỏ lộ thiên.- Đá biến chất (các vùng núi cao ở phía
bắc và miền Trung).
Tổng trữ lượng đá xây dựng 41.800
triệu m3. Các vấn đề phát sinh trong khai thác và sử dụng khoáng sản ở nước ta hiện nay ... small Hiện trạng khai thác một số loại
khoáng sản ở nước ta Quặng sắt - Hàng năm, số lượng quặng sắt khai thác và chế biến ở Việt Nam từ 300.000 – 450.000 tấn
- Công suất khai thác thấp. Công nghệ và thiết bị ở mức trung bình, một số cũ và lạc hậu
- Vì chạy theo lợi nhuận trước mắt, các DN khai thác tận thu làm tổn thất tài nguyên và môi trường bị ảnh hưởng.
- Năng lực khai thác quặng sắt: 500.000 tấn/năm.
- Thị trường quặng sắt: 80% trong nước, 20% xuất khẩu. Quặng kẽm chì - Được phát hiện và khai thác, chế biến từ hàng trăm năm nay.
- Nếu tài nguyên cho phép sau khi đã thăm dò nâng cấp trữ lượng, thì dự kiến đến năm 2010, sản lượng kẽm thỏi: 20.000-30.000 tấn/năm và khoảng 10.000 tấn chì thỏi/năm, đưa tổng thu nhập lên 35 triệu USD/năm. - Được khai thác sớm nhất ở Pia Oắc – Cao Bằng cuối thế kỷ XVIII. Đến 1945, Pháp đã khai thác khoảng 32.500 tấn tinh quặng SnO2. Mỏ thiếc Tĩnh Túc Cao Bằng được Liên Xô (cũ) thiết kế và trang bị hoạt động từ 1954 là mỏ thiếc lớn đầu tiên có quy mô công nghiệp.
- Công nghệ khai thác ở các mỏ quy mô công nghiệp chủ yếu bằng ôtô, máy xúc, tuyển trọng lực, tuyển từ, tuyển điện và công nghệ luyện kim bằng lò phản xạ, lò điện hồ quang.
- Hiện nay, công nghệ luyện thiếc bằng lò điện hồ quang chuyển giao, ứng dụng vào sản xuất đã đạt được những chỉ tiêu KT-KT tiên tiến. Quặng thiếc Dầu khí - Tiềm năng dự báo địa chất 5-6 tỷ tấn dầu quy đổi với hệ số khai thác trên dưới 30%.
- Dầu được xí nghiệp liên doanh Vietsopetro (1986 đến 1994)đã khai thác được hơn 27 triệu tấn thô. Mỏ Bạch Hổ (1995): 6.3 triệu tấn. Các mỏ Rồng và Đại Hùng sẽ đưa vào khai thác công nghiệp, sản lượng của 3 mỏ này (2000): 17 triệu tấn là tối đa.
- Khí thiên nhiên ở các lô phát hiện ở thềm lục địa phía nam có thể khai thác trong 20 năm với sản lượng hàng năm 6-7 tỷ m3
=>> toàn thềm lục địa Việt Nam dự kiến mức độ khai thác khí khoảng 7-10 tỷ m3/ năm. Than - Trước 1990, sản lượng than hàng năm cả nước dưới 10 ngàn tấn/năm. Năm 1923: chưa vượt 1 triệu tấn và cao nhất 1939: 2.6 triệu tấn. Từ năm 1955-1994: trên 50 triệu tấn than sạch trong đó khai thác lộ thiên 59%, hầm là 26% và mỏ nhỏ hơn 15%.
- Tổng sản lượng than cả nước: 5-6 triệu tấn/năm riêng than Quảng Ninh: 3-4 triệu tấn/năm, sản lượng than thuộc các vùng chứa than khác đạt 0.8-1 triệu tấn/năm. Sự suy giảm nghiêm trọng tài nguyên khoáng sản - Tình trạng nhiều loại tài nguyên khoáng sản bị suy giảm nghiêm trọng- Tài nguyên khoáng sản là không thể tái tạo hoặc thời gian tái tạo phải mất một thời gian dài, có thể lên đến hàng tỉ năm cho nên khả năng tái tạo lại khoáng sản là rất khó. Với tốc độ khai thác như hiện nay, khoáng sản ngày càng ít , nguy cơ cạn kiệt là không thể tránh khỏi. Những tác động xấu tới môi trường tự
nhiên và con người Chu trình khai thác khoáng sản thường qua 3 bước: mở cửa mỏ, khai thác và đóng cửa mỏ. Mỗi bước bao gồm nhiều công đoạn khác nhau và có những tác động khác nhau tới môi trường.
- Làm biến đổi địa hình khu vực
- Gây trượt lở đất
- Gây xói mòn bồi lấp dòng chảy
- Thu hẹp diện tích và làm suy thoái chất lượng đất canh tác, đất rừng hoặc thậm chí cả đất ở
- Làm giảm nguồn nước mặt, nước ngầm và thay đổi chế độ thủy văn, thay đổi chất lượng nước
- Ô nhiễm không khí do bụi, khí thải độc hại, tiếng ồn và độ rung lớn
- Ô nhiễm phóng xạ
- Gia tăng các sự cố môi trường như sạt lở, nổ, sập hầm lò MÔI TRƯỜNG VÀ CON NGƯỜI_1 Việc các địa phương cấp giấy phép khai thác khoáng sản tràn lan hiện nay dẫn đến tình trạng lãng phí tài nguyên và tàn phá môi trường mà chính các địa phương cấp phép cũng không kiểm soát được. Riêng tại huyện Quỳnh Hợp, tỉnh Nghệ An, sau một đợt thanh tra, Thanh tra Chính phủ đã yêu cầu tỉnh ngưng cấp phép 241 mỏ khoáng sản do sai phạm trong việc khai thác, trong quản lý lao động và hủy hoại môi trường. - Ủy ban Thường vụ Quốc hội, trong cuộc họp thảo luận về dự thảo Luật Khoáng sản (sửa đổi) ngày 18-3, đã lên tiếng báo động về tình trạng khai thác khoáng sản ồ ạt của các thành phần kinh tế, yêu cầu Chính phủ xem xét lại việc phân cấp quản lý tài nguyên khoáng sản cho địa phương, hạn chế xuất khẩu khoáng sản.
- Theo số liệu của Hải quan Trung Quốc, lượng tinh quặng sắt nhập từ Việt Nam năm 2009 là 1,81 triệu tấn, trị giá trên 100 triệu đô la
- Một nghịch lý khác là tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam đã báo động rằng từ năm 2013, Việt Nam sẽ phải nhập than đá nhưng cũng chính tập đoàn này trong năm 2009 đã xuất khẩu 29 triệu tấn than đá và năm 2010 lại đề nghị xuất khẩu tiếp 18 triệu tấn. Hiện trạng công tác quản lí tài nguyên khoáng sản ở nước ta Các chính sách và giải pháp Chính sách Giải pháp
Củng cố và xây dựng lại ngành địa chất và mỏ ở nước ta theo phân định rõ ràng và chức năng
Nghiên cứu khoa học điều tra cơ bản về địa chất môi trường
Tổ chức thăm dò, khai thác
Chú trọng xây dựng hệ thống tổ chức quản lí công nghiệp mỏ, xây dựng các tâp doàn công ty khai thác khoáng sản
Thanh tra quản lí tài nguyên khoáng sản
Xây dựng lại hệ thống tổ chức và hệ thống quản lí môi trường mỏ
Xây dựng chính sach lao động đối với những người làm công tác địa chất khai thác chế biến khoáng sản.
Đào tạo đội ngũ cán bộ, công nhân địa chất mỏ trên tinh thần trình độ mới có tầm vóc quốc tế. Đưa nhanh các tiến bộ kĩ thuât, công nghệ mới, thành tựu khoa học vào lĩnh vực sử dụng khoáng sản.
Sử dụng tổng hợp nguồn tài nguyên khoáng sản kim loại trên cơ sở áp dụng công nghệ tiên tiến nhằm tận thu các nguyên tố đi kèm, nhất là các nguyên tố kim loại hiếm.
Nên sử dụng tài nguyên khoáng sản kim loại màu ở trong nước là chính. Không xuất khẩu các kim loại hiếm, ngăn chặng tình trạng khai thác vô tổ chức, chỉ tổ chức khai thác khi có nhu cầu trong nước.
Xây dựng các định mức tiêu hao sản phẩm cho từng đơn vị sản phẩm, các tiêu chuẩn quốc gia về chất lượng khoáng sản, đặc biệt tiêu chuẩn tiết kiệm tài nguyên trong chế biến và sử dụng.
Nhằm mục đích xây dựng ngành công nghiệp mỏ hện đại ngang tàm quốc tế, để đảm bảo cho sự phát triển và sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên khoáng sản, việc cần làm - Chính sách sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên khoáng sản
- Chính sách bảo vệ môi trường khai thác mỏ
- Chính sach đầu tư trong nước và nước ngoài
- Chính sách xuất nhập khẩu khoáng sản
- Chính sách tài chính mỏ
- Chính sách lao động và an toàn sản xuất mỏ
- Chính sách về tổ chức quản lí công nghiệp mỏ Chính sách sử dụng tài nguyên khoáng sản trên cơ sở nhận thức rằng tài nguyên khoáng sản là nguồn tài nguyên không thể tái sinh được. Phát triển tài nguyên khoáng sản cần được thực hiện có trọng tâm
Gắn liền công tác triển khai thử nghiệm giá trị khoáng sản ngay trong các giai đoạn công tác điều tra thăm dò địa chất.
Gắn liền công tác khai thác chế biến tài nguyên khoáng sản, áp dụng các công nghệ kĩ thuât mới về khai thác và chế biến.
Full transcript