Loading presentation...

Present Remotely

Send the link below via email or IM

Copy

Present to your audience

Start remote presentation

  • Invited audience members will follow you as you navigate and present
  • People invited to a presentation do not need a Prezi account
  • This link expires 10 minutes after you close the presentation
  • A maximum of 30 users can follow your presentation
  • Learn more about this feature in our knowledge base article

Do you really want to delete this prezi?

Neither you, nor the coeditors you shared it with will be able to recover it again.

DeleteCancel

Trường phái Phân tâm học - Sigmund Freud , Afred Adler

No description
by

Kim THANH

on 10 October 2016

Comments (0)

Please log in to add your comment.

Report abuse

Transcript of Trường phái Phân tâm học - Sigmund Freud , Afred Adler

Phân tâm học chuyên sâu nghiên cứu về con người. Trong đó nói rõ con người luôn bị chi phối bởi bản năng tính dục và mọi hoạt động của con người đều nhằm thỏa mãn hoặc ức chế nhu cầu đó.
1. Cơ sở triết học và nguồn gốc nảy sinh của Phân tâm học
Sigmund Freud
3.2 Các giai đoạn phát triển nhân cách
1. Tiểu sử
Lý thuyết của Afred Alder
• Khác biệt đối với lý thuyết Phân tâm học của Sigmund Freud.
Quan điểm của Carl Gustav Jung
Là một bác sĩ tâm thần, một nhà tâm lý học Thụy Sĩ.
2.1. Vô thức

2.2. Tính dục

2.3. Nhân cách
2. Những luận điểm chủ yếu của học thuyết “Phân Tâm Học”của S. Freud
Khác biệt đối với lý thuyết Phân tâm học của Sigmund Freud
NHÓM 6
Lý thuyết Phân tâm - Sigmund Freud , Afred Adler, Carl Gustav Jung
S. Freud (1856-1939) là bác sỹ thần kinh và tâm thần người Áo gốc Do Thái, sinh ở Tiệp Khắc, du học ở Áo, Pháp, Đức…
Ông được coi là cha đẻ của phân tâm cổ điển.
Freud cho rằng quan hệ mẹ - con là quan hệ hoàn hảo nhất trong các quan hệ con người.
Các công trình nổi tiếng của ông:
Dự án về một nền tâm lý học khoa học và những nghiên cứu về bệnh loạn thần kinh
Phân tích các giấc mơ – có thể nói công trình này đã mở đầu của giai đoạn phát triển mạnh mẽ của Phân tâm học cũng như của Freud.
Trước Freud, các nhà tâm lý học quan niệm tâm lý gồm:
ý thức, tiềm thức và vô thức.
Freud cho rằng tâm lý gồm hai hiện tượng chính là
vô thức và ý thức.
Cái mọi người gọi là
tiềm thức
thì Freud gọi là
tiền ý thức.
Sự khác nhau giữa tiền ý thức và tiềm thức là ở chiều hướng:

Tiềm thức
là cái từ ý thức đi xuống
vô thức
còn
tiền ý thức
là cái đang từ vô thức đi lên ý
thức.
Hai là, tiền ý thức vẫn là vô thức. Nó chỉ là phần vô thức chuẩn bị đạt đến phần bậc ý thức.
Hành lang
Ý thức
Vô thức
Hành lang
Người gác
Các xung năng
Mặc dù là vô thức, có nghĩa là không ý thức song chúng ta vẫn nhận biết được sự tồn tại của vô thức. Theo Freud, vô thức được thể hiện qua các giấc mơ, trong các hành vi “lỡ”: lỡ lời, lỡ quên, lỡ viết,… và đặc biệt trong các rối loạn tâm thần.
Luận điểm về tính dục là một trong 3 luận điểm quan trọng trong lý thuyết về phân tâm của Freud.
Khái niệm tính dục (sexuality) đã được mở rộng, không chỉ giới hạn ở những gì liên quan đến sinh dục mà nó bao hàm cả chức năng thu nhận những khoái cảm từ các vùng khác nhau của cơ thể, chức năng này về sau phục vụ cho việc sinh đẻ.
Những khoái cảm tính dục có thể đến từ những vùng khác nhau của cơ thể, tuy nhiên, ở mỗi giai đoạn, trên cơ thể trẻ có một vùng theo như Freud gọi, đó là
vùng kích dục.
Nếu kích thích vào đó, khoái cảm tính dục sẽ mạnh hơn.
Ba khu vực:
Khoang miệng
trong giai đoạn sơ sinh
Hậu môn
trong giai đoạn từ khoảng 18 tháng đến 3 hoặc 4 tuổi
Bộ phận sinh dục
là vùng kích dục chủ yếu: 3,4 đến 5 tuổi.
Ba bộ phận này cũng còn được lấy để đặt tên cho 3 giai đoạn phát triển tâm - tính dục của thời kì ấu thơ.
+ Giai đoạn môi miệng (oral stage): ):
ở giai đoạn này trẻ được nuôi dưỡng chủ yếu thông qua đường miệng. Mút vú là động tác nhằm có được thức ăn, đồng thời nó cũng đem lại những khoái cảm cho trẻ.
+ Giai đoạn hậu môn (anal stage):
sự phát triển tính dục ở giai đoạn này đã có những phức tạp hơn, lúc này hậu môn nổi lên là vùng kích thích chủ đạo.
+ Giai đoạn dương vật (Phallic stage):
ở trẻ trai có sự ước muốn loại bỏ đi đối tượng yêu thương của mẹ mình, điều này đưa đến sự cạnh tranh với người cha. Đây được gọi là mặc cảm Oedipus.
Sự phát triển tính dục, đặc biệt là trong thời kì nhỏ, đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển tâm lý – nhân cách của cá nhân.
Cái Nó (Id)
Cái Tôi (Ego)
Cái nó chứa đựng toàn bộ những gì
bẩm sinh, di truyền, đặc biệt là những bản năng.
Cái nó làm
nền tảng
cho toàn bộ
cấu trúc nhân cách
, là nguồn cung cấp năng lượng cho mọi hệ thống tâm lý/tâm thần và là nơi
hình thành và phát triển cái tôi, cái siêu tôi.
Cái nó
gắn liền với các quá trình sinh học
của cơ thể.
Cái nó hoạt động theo nguyên tắc thỏa mãn:
nhanh chóng giải tỏa căng thẳng, bản năng, bất chấp hậu quả hay logic.
Cái nó tạo ra những tượng trưng bên trong hoặc ảo giác về đối tượng của ham muốn.
Cái tôi (ego) xuất hiện trong lòng Cái nó.
- Chức năng của Cái tôi như: tri giác, trí nhớ, và lý giải điều này cho phép nó học được những cách thức thực tế về sự thoả mãn Cái nó.
- Cái tôi cũng là nguồn gốc của những cơ chế phòng vệ nhằm giúp trẻ dung nạp được những cảm xúc căng thẳng và đối mặt với lo âu bằng cách giữ các suy nghĩ và cảm xúc không chấp nhận được ra khỏi ý thức.
Cái tôi hoạt động theo
nguyên tắc hiện thực
, có nghĩa là nó phải trì hoãn sự giải tỏa bằng cách kiểm tra, tìm kiếm đối tượng phù hợp trong môi trường để thỏa mãn. Trong khi Cái nó luôn tìm cách
giải tỏa ngay lập tức
sự căng thẳng của mình bằng biểu tượng thỏa mãn thì Cái tôi giống như
người điều hành, người trung gian
giữa Cái nó và thế giới, thăm dò thực tiễn và đưa ra quyết định hành động sao cho hợp lý.
Siêu tôi (Superego)
Khi trẻ ở vào độ tuổi từ 3 đến 6 tuổi, ở chúng bắt đầu hình thành ý thức và tiếp thu dần những chuẩn mực xã hội do cha mẹ truyền đạt. Chúng sẽ làm theo những chuẩn mực đó.
Nhờ có Siêu Tôi, trẻ biết được cái gì là đúng, cái gì không đúng và biết xấu hổ, ân hận khi làm một việc sai trái. Vị quan tòa – Siêu Tôi còn đóng vai trò
kiểm duyệt, ngăn cản những hành vi bản năng
, đặc biệt là những
hành vi tính dục
nếu như những hành vi này đi ngược lại đạo đức và lương tâm.
Cái Tôi luôn phải lựa để làm yên lòng cả hai bên tham chiến.
Chính vì vậy Cái Tôi hoạt động theo nguyên tắc thực tế.
Sự đòi hỏi của Siêu Tôi tạo ra trạng thái lo sợ của Cái Tôi. Nếu để lâu trang thái lo hãi này có thể dẫn đến
lo âu- trầm cảm.
Nhân cách:
3.1 Cấu trúc nhân cách
3.2 Các giai đoạn phát triển nhân cách
3.1 Cấu trúc nhân cách
Giai đoạn dương vật (khoảng 3-5 tuổi)
Giai đoạn tiềm tàng ( từ khoảng 5 tuổi cho đến dậy thì)
Giai đoạn sinh dục (tuổi vị thành niên)
Giai đoạn môi miệng (từ sơ sinh đến khoảng 1 tuổi
Giai đoạn hậu môn
Bởi vì miệng là cơ quan đầu tiên được biểu hiện thành vùng kích dục và đặt ra một yêu cầu của libido đối với tâm thần nên toàn bộ hoạt động tâm thần tập trung trước tiên vào việc thỏa mãn các nhu cầu của vùng này.
Có 5 kiểu hoạt động môi miệng:
-
Nuốt vào:
trẻ thích thú nuốt thức ăn vào thì sẽ trở thành một người lớn nuốt ngấu nghiến.
- Giữ chặt lại:
trẻ giữ chặt đầu vú khi kéo nó ra có thể dẫn tới tính quyết định và bướng bỉnh.
- Cắn:
là nguyên mẫu của hủy hoại, mỉa mai, đay nghiến, yếm thế và thống trị.
- Nhổ ra:
trở thành khước từ.
- Đóng, khép lại:
ngậm chặt miệng lại dẫn tới khước từ, phủ định hay hướng nội. Khi trưởng thành, người có nét tính cách kiểu này hay có những hành vi định hình như hút thuốc lá, cắn móng tay…

Hoạt động và sự kiện xung quanh vùng hậu môn được sử dụng làm nguyên mẫu cho nhiều hành vi trong giai đoạn này cũng như giai đoạn sau.
Trong giai đoạn này Freud nhấn mạnh sự phát triển của trẻ trai hơn trẻ gái, bởi ông tin rằng ở trẻ trai mâu thuẫn mãnh liệt hơn.
Ở nữ, đối chiếu với phức cảm Oedipus là phức cảm Electra. So với trẻ trai, trẻ gái đối mặt với một xung độ tương tự nhưng ít mãnh liện hơn.
Ở bé gái, phức cảm Electra thường tiếp tực nhiều năm song sẽ yếu dần đi hoặc bị dồn nén.
Giai đoạn hậu môn
Giai đoạn dương vật ( khoảng 3 đến 5 tuổi)
Giai đoạn tiềm tàng ( từ khoảng 5 tuổi cho đến dậy thì)
Giai đoạn này các xung năng tính dục bị dồn nén lại và không một kích nào trên cơ thể được xuất hiện. Trẻ quên đi các xung năng tính dục và những huyễn tưởng của thời thơ ấu.
Ở thời kì này, trẻ có khuynh hướng tìm kiếm sự gắn bó tình cảm cùng những thành viên có cùng giới tính và hướng những suy nghĩ của mình vào hoạt động học tập và vui chơi.
Giai đoạn sinh dục (tuổi vị thành niên)
Các xung năng tính dục bị chèn ép suốt thời kì tiềm tàng, xuất hiện trở lại mạnh mẽ cùng với kết quả của những biến đổi ở tuổi dậy thì. Ở thời kì này, các xung năng tính dục được hướng về một trẻ cùng trang lứa nhưng khác giới. Tình dục chín muồi ở độ tuổi trưởng thành nhắm đến mục tiêu sinh học về sinh sản.
Một người mang tính chất của thời kì sinh dục là một cá nhân dị tính luyến ái, có trách nhiệm và trưởng thành, là người hành động và giải quyết vấn đề một cách hiệu quả.
Luôn ốm yếu và có sự ganh tị với anh trai.
Ảnh hưởng đến kiểu lí thuyết mà ông triển khai về nhân cách.
1907 gia nhập vào Hội Tâm Phân Học Vienna của S.Freud, rồi trở thành chủ tịch hội năm 1910.
Sự khác biệt về tư tưởng đã làm rạn nứt mối quan hệ giữa S.Freud và Afred Alder. Afred Alder đã tách ra khỏi Hội và thành lập một nhóm riêng cho những người muốn thực hành chuyên môn phân tích tâm lý tự do vào năm 1911.
Afred Adler là một trong những tiền bối của chủ nghĩa Freud – mới, người sáng lập hệ thống tâm lý học cá nhân, mở đường cho sự ra đời quan điểm của thuyết cá nhân về nhân cách.
1. Tiểu sử
Nổi tiếng nhờ thành lập trường phái Tâm lý học Phân Tích nhằm phân biệt với trường phải Phân tâm học của Sigmund Freud.
Tuy không phải là người đầu tiên nghiên cứu về giác mơ nhưng chính những phát kiến lớn lao trong lĩnh vực của ông đã làm nên tên tuổi của Carl Gustav Jung.
1. Thành công của “ Phân Tâm Học”:
- Những thành tựu mà ông mang đến cho khoa học loài người nói chung, tâm lý học nói riêng là một khám phá vô cùng lớn về một mảng hiện tượng vô thức ở con người mà cho đến nay trên lĩnh vực này chưa có ai vượt qua được Freud.
- S. Freud đã bắt tay vào việc xây dựng phân tâm học học, khởi đầu là một trào lưu tâm lý học chống lại nền tâm lý học duy tâm, chủ quan để xây dựng một nền tâm lý học khách quan. Sự xuất hiện của phân tâm học một cách khách quan đã làm cho tâm lý học phát triển.
- S. Freud đã đề xuất ra một phương pháp “liên tưởng tự do” nhằm giải tỏa tâm lý, chữa trị cho các người bệnh tâm thần.
6 loại nhiễu tâm:
- Các chứng Hystêri và nhân cách Hystêri.

- Những trạng thái lo hãi; những nhân cách lo lắng và dễ tổn thương.

- Những rối loạn ám ảnh – thúc đẩy những nhân cách ám ảnh.

- Trầm nhược thần kinh; những nhân cách đặc biệt dễ tổn thương vì những tình cảm thất bại và tuyệt vọng.

- Những thái độ nhạy cảm quá mức, hay nghi ngờ và hoang tưởng bộ phận.

- Những rối loạn đặc thù của tình trạng chưa trưởng thành tính dục; những nhân cách thích thú với những rối loạn ấy và nạn nhân của những rối loạn ấy.

Những hạn chế của “Phân Tâm Học”
- Luận điểm, động lực của mọi hoạt động tâm lý người là cái vô thức gắn liền với các đam mê tính dục là một luận điểm không đúng.

- Quan niêm về con người và nhân cách con người trong phân tâm học Freud cũng bộc lộ những khía cạnh không đúng đắn.
- Do những quan niệm sai trái như ở trên, một số các học giả kế tục Freud đã cố gắng tìm cách khắc phục các hạn chế của phân tâm học, mong muốn xây dựng một phân tâm học mới.
- Về mặt chính trị - xã hội, một cách khách quan, phân tâm học của Freud đã trở thành cơ sở cho một thứ triết lý sống không tích cực.
Vận dụng trong đời sống
- Giúp y khoa khám phá và chữa trị những trường hợp tâm bệnh mà trước nay với phương pháp của khoa học thực nghiệm nó chưa đủ khả năng điều trị.
- Giúp ta khám phá chiều sâu vô tận của tiềm thức mà có thể nói được là chiều sâu đời sống, thế giới của tất cả các căn nguyên, động cơ bí ẩn của ý thức và nhân cách của chúng ta.
Trong triển vọng về mặt trợ giúp, tương lai của phân tâm học, đó là tâm thần học. Nếu phân tâm học không tích hợp với các mô hình trợ giúp khác, nó sẽ mất đi đạo đức về mặt trợ giúp bởi vì nó khiến cho các kiến thức mới có thể hữu ích cho bệnh nhân thì bị mờ đi. Ngoài khía cạnh chăm chữa, phân tâm còn là một tiếp cận với hiểu biết về bản thân mình.
Vận dụng trong công tác giảng dạy
- Giúp Giảng Viên giảng dạy tốt, đồng thời chia sẻ những kinh nghiệm, những hiểu biết cho sinh viên, giúp sinh viên sống lành mạnh…

- Giúp sinh viên tiếp thu bài tốt, đồng thời ứng dụng ngay trong cuộc sống, học hỏi kinh nghiệm ở các Giảng Viên.

Full transcript