Loading presentation...

Present Remotely

Send the link below via email or IM

Copy

Present to your audience

Start remote presentation

  • Invited audience members will follow you as you navigate and present
  • People invited to a presentation do not need a Prezi account
  • This link expires 10 minutes after you close the presentation
  • A maximum of 30 users can follow your presentation
  • Learn more about this feature in our knowledge base article

Do you really want to delete this prezi?

Neither you, nor the coeditors you shared it with will be able to recover it again.

DeleteCancel

Phân tích cán cân thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2000 –

No description
by

nghia minh

on 21 September 2015

Comments (0)

Please log in to add your comment.

Report abuse

Transcript of Phân tích cán cân thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2000 –

Phân tích cán cân thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2000 – 2015.
Thực trạng và giải pháp

GIẢI PHÁP CẢI THIỆN CÁN CÂN THƯƠNG MẠI
Những vấn đề chung
về CCTM

1. Khái niệm: Là 1 khoản mục trong TK vãng lai của cán cân thanh toán quốc tế.
NX = EX - IM
2. Các nhân tố ảnh hưởng đến CCTM
3. Vai trò của CCTM đối với nền kinh tế
2. Các nhân tố ảnh hưởng đến CCTM
1. Xuất khẩu
2. Nhập khẩu
3. Tỷ giá
4. Ảnh hưởng của dòng vốn
5. Ảnh hưởng của thu nhập
6. Các chính sách thương mại và phát triển quốc tế
Giải pháp về hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý và điều hành xuất nhập khẩu
- Sớm sửa đổi, bổ sung Nghị định số 12/2006/NĐ-CP của Chính phủ về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hoá với nước ngoài.
- Tập trung nghiên cứu, xây dựng và ban hành tiêu chuẩn đối với các loại hàng hoá xuất khẩu.
- Tăng cường các biện pháp phòng vệ thương mại nhằm tạo môi trường cạnh tranh công bằng, giảm thua thiệt trong xuất khẩu và bảo vệ doanh nghiệp trong nước.
Giải pháp về đầu tư và đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Điều chỉnh chiến lược đầu tư gắn liền với việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế theo hướng tập trung vào hiệu quả thay vì qui mô.
- Bảo đảm tiếp tục duy trì qui mô và tốc độ tăng trưởng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam nhưng đồng thời phải nhanh chóng chuyển hướng chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài thiên về số lượng sang chú trọng hơn về chất lượng.
- Xử lý một cách căn bản vấn đề chuyển giá của các doanh nghiệp trong hoạt động xuất nhập khẩu, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhằm giảm thiểu thiệt hại trong xuất khẩu, hạn chế tình trạng nâng giá trong nhập khẩu và qua đó cải thiện tình trạng cán cân thương mại.
3. Vai trò của CCTM đối với nền kinh tế
Cung cấp những thông tin liên quan đến cung cầu tiền tệ của một quốc gia (sự thay đổi tỷ giá)
Phản ánh khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế của một quốc gia.
Phản ánh tình trạng của cán cân vãng lai, do đó có ảnh hưởng đến ổn định nền kinh tế vĩ mô, dựa vào đó nhà nước có thể đưa ra các chính sách để có thể điều chỉnh CCTM đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô.
Thể hiện mức tiết kiệm, đầu tư và thu nhập thực tế: EX – IM = (S – I) + (T –G)
CCTM là một bộ phận cấu thành tổng thu nhập quốc dân, ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế.
Nhóm 6, Lớp CH21A.TCNH
Giảng hướng dẫn:
GS.TS Phạm Thị Tuệ

I. Những vấn đề chung về cán cân thương mại.

II. Thực trạng cán cân thương mại của Việt Nam giai đoạn 2000 – 2015.

III. Đề xuất giải pháp cải thiện cán cân thương mại.
Giai đoạn 2011 - 2014
CCTM Việt Nam giai đoạn từ 2000 đến nay
1. Giai đoạn 2000 - 2010
Kim ngạch xuất khẩu tăng 57,788 tỷ USD (400%)
Kim ngạch nhập khẩu tăng 69,204 tỷ USD (443%)
CCTM luôn ở trạng thái thâm hụt. Từ năm 2000 - 2002, cán cân thương mại thâm hụt trung bình khoảng hơn 1 tỷ USD; giai đoạn 2003 - 2006, mức thâm hụt tăng lên trung bình mỗi năm khoảng 5 tỷ USD. Từ năm 2007 - 2010, mức thâm hụt trung bình mỗi năm khoảng 14,4 tỷ USD. Đặc biệt năm 2008, mức thâm hụt lên tới 18,029 tỷ USD
Cơ cấu xuất nhập khẩu
1. Về mặt hàng xuất khẩu, cơ cấu xuất khẩu mặc dù đã có chuyển biến tích cực nhưng vẫn dựa chủ yếu vào các sản phẩm thô và chất lượng không cao. Xuất khẩu nhóm hàng chế biến có tăng lên vào cuối giai đoạn này nhưng tạo ra giá trị gia tăng thấp và tỷ trọng nhóm hàng chế biến vẫn ở mức thấp so với các nước láng giềng.

2. Về mặt hàng nhập khẩu, Việt Nam chủ yếu nhập tư liệu sản xuất. Tư liệu sản xuất chiếm tỷ trọng gần như tuyệt đối trong kim ngạch nhập khẩu, lên đến 90%.
- Cơ cấu công nghiệp Việt Nam còn mất cân đối và thiếu tính bền vững, đặc biệt là sự yếu kém của các ngành công nghiệp hỗ trợ.

- Phần lớn các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam là mặt hàng gia công, bởi thế khi xuất khẩu tăng cũng đồng nghĩa với nguyên, nhiên vật liệu nhập khẩu cũng tăng theo.

- Nhập khẩu hàng tiêu dùng tuy chiếm tỷ trọng nhỏ(khoảng 7% - 9%) nhưng danh mục hàng hóa lại đa dạng dẫn đến việc quản lý nhập khẩu, hạn chế nhập siêu trở nên phức tạp hơn.

- Trong cơ cấu nhập khẩu hàng tiêu dùng trước đây đã có nhập khẩu thực phẩm, vốn đã bất hợp lý với một quốc gia có lợi thế cạnh tranh nông nghiệp như Việt Nam, giờ đây lại xuất hiện nhiều hàng tiêu dùng xa xỉ, tuy tỷ trọng còn nhỏ trong kim ngạch nhập khẩu nhưng cũng chiếm đến 50% tỷ trọng hàng tiêu dùng.


Thị trường XNK
Thị trường xuất khẩu

Về thị trường xuất khẩu, Việt Nam phụ thuộc quá nhiều vào một nhóm nhỏ các quốc gia gồm EU, ASEAN, Nhật Bản, Trung Quốc, Mỹ. Năm 2000, tỷ trọng xuất khẩu vào các thị trường này lần lượt là EU (19,64%), ASEAN (18,08%), Nhật Bản (17,78%), Trung Quốc (10,61%), Mỹ (5,06%).

Việc tập trung vào một số thị trường làm cho xuất khẩu của Việt Nam rất dễ rủi ro khi có những biến động bất lợi từ các thị trường này. Trong những tháng cuối năm 2008 và đầu năm 2009, xuất khẩu Việt Nam đã trải qua một thời gian lao đao khi các nước và khu vực trên thu hẹp nhập khẩu do tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu
Về thị trường nhập khẩu, châu Á (đặc biệt là các nước ASEAN và APEC)vẫn chiếm đa số do lợi thế về khoảng cách, chất lượng và giá cả hàng hóa phù hợp. Năm 2000, ASEAN là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm 28,45%kim ngạch nhập khẩu, theo sau là Nhật Bản (14,71%), Hàn Quốc (11,21%), TrungQuốc (8,96%)
Việt Nam luôn chịu thâm hụt cán cân thương mại dai dẳng, đặc biệt từ 2000 - 2011. Điều ngạc nhiên là, đang ở trạng thái thâm hụt cán cân thương mại rất cao vào năm 2011, với các quyết định siết chặt đầu tư công, tín dụng, chống đô-la hóa và tái cơ cấu kinh tế tổng thể nền kinh tế, cán cân thương mại của Việt Nam trong những năm sau đó đã đổi chiều
Cơ cấu mặt hàng XNK

1. Xuất khẩu
- Những mặt hàng truyền thống như da giầy, va li, túi xách có sự cải thiện rõ rệt trong khi đó tăng trưởng ở các mặt hàng điện tử, điện thoại có những dấu hiệu chững lại do thị trường máy tính, điện tử đã khá bão hoà.
- Nhìn tổng thể cơ cấu xuất khẩu thì mức độ chuyển dịch cơ cấu tương đối chậm, cơ cấu hàng xuất khẩu 2014 cũng không có nhiều biến động so với năm 2013. Tỷ trọng của các mặt hàng lớn như điện thoại, dệt may, giầy dép gần như không có sự thay đổi đáng kể.
2. Cơ cấu hàng nhập khẩu
Cơ cấu hàng hóa nhập khẩu không có nhiều biến động, chủ yếu là các mặt hàng tư liệu sản xuất chiếm tới 91,2% tổng kim ngạch nhập khẩu; hàng hoá tiêu dùng chiếm tỷ trọng tương đối nhỏ khoảng 8,2%. Tuy nhiên, trong năm 2014, tăng trưởng nhập khẩu hàng hoá tiêu dùng có cải thiện.
Tỷ trọng của các mặt hàng nhập khẩu lớn tương đối ổn định so với năm 2013.
Thị trường XNK

Việt Nam xuất siêu sang các nước EU và Hoa Kỳ và nhập siêu từ các nước Hàn Quốc, ASEAN và đặc biệt là Trung Quốc. Trong năm 2014 nhập siêu từ Trung Quốc là 28,9 tỷ USD, tiếp tục tăng 21,8% so với cùng kỳ năm 2013). Điều này là do Việt Nam chủ yếu nhập khẩu máy móc thiết bị, nguyên nhiên phụ liệu từ Trung Quốc, Hàn Quốc và ASEAN để sản xuất hàng xuất khẩu sang Hoa Kỳ và EU
Nguyên nhân thặng dư CCTM
1. Thặng dư cán cân thương mại thời gian qua chủ yếu dựa vào đóng góp khối doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI), trong khi cán cân thương mại của khối doanh nghiệp trong nước vẫn nhập siêu.
2. Kinh tế thế giới được dự báo tăng trưởng tốt hơn, các nhà đầu tư nước ngoài chọn Việt Nam là điểm đến đầu tư để đón bắt những cơ hội từ các Hiệp định sắp được ký kết, dẫn đến tăng nhu cầu nhập khẩu máy móc thiết bị để phục vụ cho các dự án đầu tư mới.
3. Xu hướng dịch chuyển đầu tư từ Trung Quốc, Thái Lan, Camphuchia sang Việt Nam.
4. Tỉ giá được điều chỉnh hợp lý.
Nguyên nhân thâm hụt CCTM giai đoạn này
1. Chính sách tài khóa không nhất quán, chính phủ không nắm rõ được mức chi và những mục tiêu đề ra nhằm giám thâm hụt ngân sách không đạt hiệu quả đã làm cho tình trạng nhập siêu và thâm hụt tài khoản vãng lai trong thời gian dài.
2. Đầu tư tăng cao và tiết kiệm khu vực tư nhân không đủ bù đắp dẫn tới sự huy động vốn từ bên ngoài và làm thâm hụt cán cân thương mại.
3. Điều hành tỷ giá đã làm cho cán cân thương mại không được cải thiện mà còn trầm trọng hơn do hệ thống tỷ giá cố định.
4. Việt Nam chịu tác động quá nhanh và mạnh mẽ từ việc gia nhập WTO ( 2007 ). Mặc dù kim ngạch xuất khẩu có mức tăng trưởng khá nhanh nhưng vẫn không bì kịp với tốc độ tăng trưởng nhập khẩu khi rào cản thuế quan dần dần được xóa bỏ, đã làm hàng hóa nước ngoài tràn vào Việt Nam trong khi để tăng tốc độ xuất khẩu không phải là việc đơn giản mà đòi hỏi phải có thời gian lâu dài.
Tình hình CCTM đầu năm 2015, dự báo các năm tới
- Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, so với quý I/2014, giá trị nhập khẩu điện tử, máy tính và linh kiện tăng 31,1%; điện thoại các loại và linh kiện tăng 25%; máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác tăng 44%; thức ăn chăn nuôi và nguyên phụ liệu tăng 24,9%; sản phẩm chất dẻo tăng 27%. Chỉ riêng 5 nhóm mặt hàng này đã chiếm tới 46% tổng kim ngạch nhập khẩu của quý I/2015. Các mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu lớn như vải, nguyên phụ liệu cho giày dép, kim loại và sắt thép đều có tốc độ tăng trưởng dương.

- Trong bối cảnh nhu cầu nhập khẩu tăng, khả năng xuất khẩu những mặt hàng chủ lực bắt đầu bị giới hạn thì nhập siêu là điều khó tránh. Trong khi đó, những mặt hàng mới như máy móc, thiết bị, điện tử, điện thoại còn phụ thuộc nhiều vào đầu vào nhập khẩu, nên tăng xuất khẩu những mặt hàng này cũng làm tăng nhập khẩu mạnh đầu vào. Mặt khác, giá hàng nhập khẩu tăng tương đối so với giá hàng xuất khẩu cũng góp phần làm tăng thâm hụt thương mại trong quý I/2015.

- Xuất khẩu năm 2015 dự báo không có đột biến, vì một số mặt hàng có lợi thế của Việt Nam đã đến ngưỡng như: Xuất khẩu gạo, cà phê, hạt tiêu… không có sự xê dịch nhiều, chưa nói đến sự bấp bênh về giá. Một số mặt hàng công nghiệp như dầu thô cũng đã khai thác đến ngưỡng, không thể xuất khẩu nhiều hơn. Những mặt hàng của DN FDI gần đây có sự tăng trưởng đột biến như điện thoại di động, điện tử tốc độ tăng trong năm 2015 sẽ tăng chậm lại, nhưng khả năng nhập khẩu sẽ tăng nhiều hơn con số đó (năm 2014 tăng 12% và năm 2015 có thể là 14%). Theo dự báo từ nay đến năm 2020, Việt Nam vẫn là nước nhập siêu.
1. Hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý và điều hành xuất nhập khẩu.
2. Giải pháp về tài chính, tín dụng
3. Giải pháp về tạo thuận lợi hoá thương mại
4. Giải pháp về xúc tiến thương mại
5. Giải pháp về hội nhập quốc tế
6. Giải pháp về đầu tư và đầu tư trực tiếp nước ngoài
7. Giải pháp về tỷ giá và điều hành tỷ giá
8. Giải pháp về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực
Giải pháp về tỷ giá và điều hành tỷ giá
- Giảm bớt sự lệ thuộc của tiền đồng đối với đô la Mỹ thông qua việc xác định tỷ giá trên cơ sở một rổ ngoại tệ được lựa chọn.
- Tỷ giá thực đa phương nên được huy động để xác định mức độ định giá của tỷ giá hiệu lực hiện tại.
- Không sử dụng và điều hành tỷ giá theo hướng tập trung quá nhiều vào mục tiêu là công cụ để hỗ trợ cho khả năng cạnh tranh của hàng hoá xuất nhập khẩu.
- Thực hiện điều hành tỷ giá theo hướng nới rộng hơn nữa biên độ dao động, cho phép sự tham gia nhiều hơn của thị trường vào quá trình hình thành tỷ giá.
Full transcript