Loading presentation...

Present Remotely

Send the link below via email or IM

Copy

Present to your audience

Start remote presentation

  • Invited audience members will follow you as you navigate and present
  • People invited to a presentation do not need a Prezi account
  • This link expires 10 minutes after you close the presentation
  • A maximum of 30 users can follow your presentation
  • Learn more about this feature in our knowledge base article

Do you really want to delete this prezi?

Neither you, nor the coeditors you shared it with will be able to recover it again.

DeleteCancel

Make your likes visible on Facebook?

Connect your Facebook account to Prezi and let your likes appear on your timeline.
You can change this under Settings & Account at any time.

No, thanks

Quá trình nhận thức và chủ trương giải quyết các vấn đề xã hội

No description
by

Gosu Hi i'm

on 20 April 2015

Comments (0)

Please log in to add your comment.

Report abuse

Transcript of Quá trình nhận thức và chủ trương giải quyết các vấn đề xã hội

ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

BÀI THUYẾT TRÌNH
CHƯƠNG 7:
PHÂN TÍCH
QUAN ĐIỂM VÀ CHỦ TRƯƠNG

CỦA ĐẢNG TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI
12/1986
06/1996
QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI NHẬN THỨC
VỀ GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI
(TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI)

Tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (12/1986)
- Lần đầu tiên nêu lên khái niệm "
Chính sách xã hội
". Đây là sự
đổi mới tư duy
về giải quyết các vấn đề xã hội được đặt trong tổng thể đường lối phát triển của đất nước, đặc biệt là giải quyết mối quan hệ giữa chính sách kinh tế với chính sách xã hội.
- Đại hội cho rằng
trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách xã hội
,
nhưng những mục tiêu xã hội lại là mục đích của các hoạt động kinh tế.
Tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (12/1986)
Mục tiêu
của
chính sách xã hội thống nhất với mục tiêu phát triển kinh tế
ở chỗ đều nhằm
phát huy sức mạnh của nhân tố con người
. Phát triển kinh tế là cơ sở và tiền đề để thực hiện các chính sách xã hội, đồng thời thực hiện tốt các chính sách xã hội là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế.
Tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII (06/1996)
Đại hội chủ trương hệ thống chính sách xã hội phải được hoạch định theo những quan điểm sau:
1 Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển.
2 Thực hiện nhiều hình thức phân phối.
3 Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xoá đói giảm nghèo.
4 Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hoá.
Tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX (04/2001)
Đại hội chủ trương các chính sách xã hội phải hướng vào phát triển và làm lành mạnh hoá xã hội, thực hiện công bằng trong phân phối, tạo động lực mạnh mẽ phát triển sản xuất , tăng năng suất lao động xã hội, thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã hội, khuyến khích nhân dân làm giàu hợp pháp.
04/2001
Tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X (04/2006)
Đại hội chủ trương phải
kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội
trong phạm vi cả nước, ở từng lĩnh vực, địa phương.
04/2006
Tại Hội nghị Trung ương 4 khóa X (01/2007)
Hội nghị nhấn mạnh phải giải quyết tốt các vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình thực thi các cam kết với WTO. Xây dựng cơ chế đánh giá và cảnh báo định kỳ về tác động của việc gia nhập WTO đối với lĩnh vực xã hội để có biện pháp xử lý đúng đắn, kịp thời.
01/2007
4
7
Một là: kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội
CHÍNH SÁCH
KINH TẾ
CHÍNH SÁCH
XÃ HỘI
_ Dễ dàng thấy chính sách KT và chính sách XH đều tập trung vào
phát triển con ngườ
i.
_ Nếu chính sách kinh tế đúng đắn, đương nhiên sẽ tạo ra được điều kiện vật chất, tiền để giải quyết tốt các vấn đề xã hội. Ngược lại, giải quyết tốt các vấn đề xã hội bằng những chính sách xã hội tốt, sẽ tạo nên một xã hội ổn định, tích cực lành mạnh để phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, nhưng không đi chệch định hướng XHCN.
Hai là: hoàn thiện và xây dựng thể chế gắn kết tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển
Bốn là: coi trọng chỉ tiêu GDP bình quân đầu người gắn với chỉ tiêu phát triển con người (HDI) và chỉ tiêu phát triển các lĩnh vực xã hội
Từ điểm xuất phát thấp, trong quá trình CNH, HĐH ta cần phải đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, rút ngắn khoảng cách của nước ta với thế giới. Do đó việc tăng trưởng GDP là rất cần thiết. Mặt khác, mục tiêu phát triển kinh tế là để phục vụ con người, mà chỉ tiêu HDI liên quan trực tiếp đến mức độ đáp ứng các nhu cầu xã hội. vì vậy đại hôi X đã xác định quan điểm trên.
Ba là: chính sách xã hội được thực hiện trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn bó hữu cơ giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa cống hiến và hưởng thụ
công bằng xã hội phải thể hiện đầy đủ ở cả khâu phân phối tư liệu sản xuất lẫn khâu phân phối kết quả sản suất, ở việc tạo điều kiện cho mỗi người phát huy tốt năng lực của mình
Trong nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần cũng xuất hiện nhiều giai tầng, nhiều nhóm cư dân, xã hội khác nhau. Lợi ích giữa các nhóm có cái chung và cái riêng. Chúng ta cũng đã có sự thay đổi quan điểm trong vấn đề giàu nghèo. Từ chỗ không chấp nhận có sự phân hóa giàu-nghèo đã đi đến khuyến khích mọi người làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xóa đói giảm nghèo, coi việc một bộ phận dân cư giàu trước là cần thiết cho sự phát triển.
Từ khi chúng ta thực hiện kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, bên cạnh những thành tựu quan trọng đã đạt được, những chủ trương chính sách mới trong kinh tế cũng đã để lại một số vấn đề về công bằng xã hội mà nếu không giải quyết một cách thỏa đáng, chúng sẽ biến thành mâu thuẫn giữa các tầng lớp khác nhau trong xã hội.
1
2
3
4
5
6
7
là: khuyến khích mọi người dân làm giàu theo pháp luật
là: đảm bảo cung ứng dịch vụ công thiết yếu, bình đẳng cho mọi người dân, tạo việc làm và thu nhập. Chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
+ Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa dạng; phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm.

+ Đa dạng hóa các loại hình cứu trợ xã hội, tạo nhiều việc làm ở trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu lao động.

+ Đổi mới chính sách tiền lương; phân phối thu nhập xã hội công bằng, hợp lý.
là, phát triển hệ thống y tế công bằng và hiệu quả.
Hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở; quan tâm chăm sóc y tế tốt hơn đối với các đối tượng chính sách; phát triển các dịch vụ y tế công nghệ cao, các dịch vụ y tế ngoài công lập.
là, xây dựng chiến lược quốc gia về nâng cao sức khỏe và cải thiện giống nòi.
Quan tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản. Giảm nhanh tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng. Đẩy mạnh công tác bảo vệ giống nòi kiên trì phòng chống HIV/AIDS và các tệ nạn xã hội.
Năm là, thực hiện tốt các chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình.
Giảm tốc độ tăng dân số, bảo đảm quy mô và cơ cấu dân số hợp lý. Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc; bảo đảm bình đẳng giới
là chú trọng các chính sách ưu đãi xã hội
_ Bảy là, đổi mới cơ chế quản lý và phương thức cung ứng các dịch vụ công cộng
Đánh giá sự thực hiện đường lối
Qua hơn 20 năm đổi mới, lĩnh vực phát triển xã hội đã đạt nhiều thành tựu. Một xã hội mở đang dần dần hình thành với những con người, dám nghĩ dám chịu trách nhiệm, không chấp nhận đói nghèo, lạc hậu, biết làm giàu, biết cạnh tranh và hành động vì cộng đồng, vì Tổ quốc. Cách thức quản lý xã hội dân chủ, cởi mở hơn, đề cao pháp luật hơn.
Bên cạnh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, đã xuất hiện ngày càng đông đảo các doanh nhân, tiểu chủ, chủ trang trại và các nhóm xã hội khác phấn đấu vì sự nghiệp "dân giàu, nước mạnh".
Đã coi phát triển giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.
Sau 20 năm đổi mới chính sách xã hội, nhận thức về vấn đề phát triển xã hội của Đảng và nhân dân ta đã có những thay đổi quan trọng:
HẠN CHẾ
Yếu kém trong giáo dục
Áp lực gia tăng dân số
Phân hóa giàu nghèo
Tệ nạn xã hội
Ô nhiễm môi trường – Khai thác tài nguyên bừa bãi
An sinh xã hội chưa được đảm bảo
- Từ chỗ muốn nhanh chóng xây dựng một cơ cấu xã hội "thuần nhất" chỉ còn có giai cấp công nhân, giai cấp nông dân tập thể và tầng lớp trí thức đã đi đến quan niệm cần thiết xây dựng một cộng đồng xã hội đa dạng, trong đó các giai cấp, các tầng lớp dân cư đều có nghĩa vụ, quyền lợi chính đáng, đoàn kết chặt chẽ, góp phần xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh.
Từ chỗ đề cao quá mức lợi ích của tập thể; thi hành chế độ phân phối theo lao động trên danh nghĩa nhưng thực tế là bình quân - cào bằng đã từng bước chuyển sang thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp các nguồn lực khác vào sản xuất - kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội. Nhờ vậy, công bằng xã hội được thể hiện ngày một rõ hơn.
- Từ tâm lý thụ động, ỷ lại vào Nhà nước và tập thể, trông chờ viện trợ đã chuyển sang tính năng động, chủ động và tính tích cực xã hội của tất cả các tầng lớp dân cư.

Từ chỗ không đặt đúng tầm quan trọng của chính sách xã hội trong mối quan hệ tương tác với chính sách kinh tế đã đi đến thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội.
- Từ chỗ Nhà nước bao cấp toàn bộ trong việc giải quyết việc làm đã dần dần chuyển trọng tâm sang thiết lập cơ chế, chính sách để các thành phần kinh tế và người lao động đều tham gia tạo việc làm.
- Giáo dục và đào tạo vẫn còn hạn chế, yếu kém kéo dài gây bức xúc trong xã hội nhưng chưa được tăng cường trong lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết.
- Áp lực gia tăng dân số vẫn còn lớn. Chất lượng dân số còn thấp đang là cản trở lớn đối với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế. Vấn đề việc làm rất bức xúc và nan giải.
Sự phân hoá giàu - nghèo và bất công xã hội tiếp tục gia tăng đáng lo ngại.
- Mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân còn thấp, chênh lệch lớn giữa các vùng, các tầng lớp dân cư.
- Một số vấn đề xã hội bức xúc cũ và phát sinh mới chậm được giải quyết.
- Tệ nạn xã hội gia tăng và diễn biến rất phức tạp, gây thiệt hại lớn về kinh tế và an sinh xã hội.
- Môi trường sinh thái bị ô nhiễm tiếp tục tăng thêm; tài nguyên bị khai thác bừa bãi và tàn phá.
- Hệ thống giáo dục, y tế lạc hậu, xuống cấp, có nhiều bất cập; an sinh xã hội chưa được bảo đảm.
- Tăng trưởng kinh tế vẫn tách rời mục tiêu và chính sách xã hội, chạy theo số lượng ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển bền vững xã hội.
- Quản lý xã hội còn nhiều bất cập, không theo kịp sự phát triển kinh tế - xã hội
QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI NHẬN THỨC
VỀ GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI
TRƯỚC ĐỔI MỚI (1945-1954)

A. Thời kỳ trước đổi mới (1945-1985)
1. Giai đoạn 1945-1954.
Sau cách mạng tháng 8 và trong những năm thực hiện
"kháng chiến kiến quốc"
Chính sách xã hội cấp bách là làm cho dân có ăn, có mặc, có chỗ ở và được học hành.
Tiếp sau đó là làm cho người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu, người khá giàu thì giàu thêm.
Chính phủ chủ trương và hướng dẫn tăng gia sản xuất, chủ trương tiết kiệm, đồng cam cộng khổ. Bên cạnh đó khuyến khích mọi thành phần xã hội phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường.
2. Giai đoạn 1955-1975.
Áp dụng mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu cũ:
nền kinh tế sản xuất tự cung tự cấp, Nhà nước và tập thể đáp ứng các nhu cầu xã hội thiết yếu bằng chế độ bao cấp tràn lan dựa vào viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa.
3. Giai đoạn 1975-1985
Đến Đại hội IV(1976) Đảng ta đã đề ra đường lối chung của các mạng Việt Nam:Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động,
Tiến hành đồng thời 3 cuộc cách mạng : CM quan hệ sản xuất, CM khoa học – kỹ thuật, CM tư tưởng và văn hóa, trong đó, KH-KT là then chốt.
Đẩy mạnh công nghiệp hóa XHCN là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ lên CNXH; xây dựng chế độ làm chủ tập thể XHCN, xây dựng nền sản xuất XHCN, xây dựng nền văn hóa mới, xây dựng con người mới XHCN; xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xóa bỏ nghèo nàn, lạc hậu....; xây dựng Tổ quốc Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất.
+ Trong xã hội đã hình thành tâm lý thụ động, ỷ lại vào Nhà nước và tập thể trong cách giải quyết các vấn đề xã hội.
+ Chế độ phân phối trên thực tế là bình quân cao bằng không khuyến khích những đơn vị cá nhân làm tốt, làm giỏi...
+ Đã hình thành một xã hội đóng, ổn định nhưng kém năng động, chậm phát triển về nhiều mặt.

Nguyên nhân cơ bản của các hạn chế trên là chúng ta đặt chưa đúng tầm chính sách xã hội trong quan hệ với chính sách kinh tế, chính trị, đồng thời lại áp dụng và duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp.

II. Đánh giá việc thực hiện đường lối
Chính sách xã hội trong giai đoạn này tuy có nhiều điểm hạn chế nhưng đã bảo đảm được sự ổn định của xã hội, đồng thời còn đạt được thành tựu phát triển đáng tự hào trên một số lĩnh vực như văn hoá, giáo dục, y tế, lối sống, đạo đức, kỷ cương và an sinh xã hội, hoàn thành nghĩa vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn.
Hạn chế và nguyên nhân.
Tại đại hội XI của Đảng chủ trương
phát triển toàn diện mạnh mẽ các lĩnh vực văn hóa, xã hội hài hòa với phát triển kinh tế.
01/2011
Full transcript