Loading presentation...

Present Remotely

Send the link below via email or IM

Copy

Present to your audience

Start remote presentation

  • Invited audience members will follow you as you navigate and present
  • People invited to a presentation do not need a Prezi account
  • This link expires 10 minutes after you close the presentation
  • A maximum of 30 users can follow your presentation
  • Learn more about this feature in our knowledge base article

Do you really want to delete this prezi?

Neither you, nor the coeditors you shared it with will be able to recover it again.

DeleteCancel

Make your likes visible on Facebook?

Connect your Facebook account to Prezi and let your likes appear on your timeline.
You can change this under Settings & Account at any time.

No, thanks

Cá nhân

No description
by

Keen Keen

on 17 March 2014

Comments (0)

Please log in to add your comment.

Report abuse

Transcript of Cá nhân

Quan hệ pháp luật dân sự
Chủ thể
Khách thể
Cá nhân
Pháp nhân
Hộ gia đình
Tổ hợp tác
Nhà nước
Các chủ thể khác
Khái quát về cá nhân
Cá nhân
Năng lực hành vi dân sự của cá nhân
Khái niệm
Khái niệm NLPLDS được quy định tại
khoản 1 điều 14 BLDS 2005
: Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
là khả năng cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự.
Năng lực pháp luật dân sự là điều kiện tiền đề để cá nhân được hưởng các quyền cụ thể khác.
Căn cứ phát sinh và chấm dứt năng lực pháp luật dân sự
Quy định tại
khoản 3 điều 14 BLDS 2005
: “
NLPLDS của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết

Căn cứ phát sinh
NLPLDS của cá nhân
có từ khi người đó sinh ra
Cá nhân có năng lực pháp luật dân sự từ thời điểm lọt lòng mẹ tức là ngay từ khi sinh ra.

Tuy nhiên, thì
trong một số trường hợp cá nhân chưa được sinh ra nhưng đã thành thai
thì nó đã tự mặc định gắn với một số năng lực dân sự (quy định về người thừa kế theo điều 635 BLDS).
Căn cứ chấm dứt
Năng lực pháp luật dân sự của một cá nhân chỉ chấm dứt khi người đó chết hoặc bị tuyên bố là đã chết.
Có ba cách khác nhau để tuyên bố rằng một người đã chết.
Thông thường nhất là việc xác nhận cái chết bởi một bác sĩ.
Cách thứ hai là xác nhận bởi một nhân viên điều tra hay chuyên viên khám nghiệm y khoa của Nhà nước.
Cách thứ ba là tuyên bố chết bởi tòa án
Cái chết của cá nhân chính
là sự kiện pháp lý làm chấm dứt tư cách chủ thể
của họ.
Trên thực tế, có những trường hợp vì nhiều lí do khác nhau đã không thể xác nhận được cá nhân đó còn sống hay đã chết. Trong những trường hợp như vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp,
pháp luật đã quy định những điều kiện, trình tự để tạm dừng hoặc chấm dứt tư cách chủ thể của cá nhân dưới hai hình thức là tuyên bố mất tích hoặc tuyên bố chết.

Đặc điểm của năng lực pháp luật dân sự
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân được nhà nước ghi nhận trong các văn bản pháp luật mà
nội dung của nó phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội tại thời điểm lịch sử nhất định.
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
là sự phản ánh địa vị pháp lý của cá nhân
trong xã hội được nhà nước ghi nhận trong các văn bản pháp luật.
Mọi cá nhân đều bình đẳng về năng lực pháp luật dân sự. Theo quy định tại khoản 2 điều 14 BLDS.
“Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không hề bị hạn chế, trừ trường hợp do pháp luật quy định” theo quy định tại
điều 16 BLDS 2005
.
Mọi giao dịch dân sự nhằm mục đích hạn chế hoặc hủy bỏ năng lực pháp luật dân sự của cá nhân đều bị xem là vô hiệu, trừ trường hợp pháp luật quy định.
Nội dung
Quy định tại
điều 17 BLDS 2005
: Năng lực hành vi dân sự (hay còn gọi là năng lực hành vi dân sự của cá nhân)
là khả năng của một người, thông qua các hành vi của mình để xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự đối với người khác
.
Năng lực hành vi dân sự
gắn liền với độ tuổi và trạng thái sức khỏe, tinh thần của con người.
Năng lực hành vi dân sự có thể được ủy quyền cho người khác, có thể tách rời khỏi cá nhân.

Khái niệm
Năng lực hành vi dân sự của mỗi cá nhân là khác nhau tùy thuộc vào ba điều kiện sau:
+ Độ tuổi;
+ Trí tuệ;
+ Tình trạng phá tán tài sản.

Căn cứ xác định NLHVDS của một cá nhân
Các mức độ NLHVDS của cá nhân
a. Người có đầy đủ NLHVDS
* Theo quy định tại
điều 19 BLDS 2005
:Người thành niên có năng lực hành vi đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại
Điều 22

Điều 23
của Bộ luật này.
Bên cạnh đó,
điều 18 BLDS 2005
quy định về người thành niên: Người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên. Người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên.

* Người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự có thể trở thành người giám hộ nếu thỏa mãn điều kiện sau:
- Có tư cách đạo đức tốt, không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị kết án nhưng chưa xóa được án tích về một trong số các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác.
- Có đủ điều kiện cần thiết đảm bảo thực hiện giám hộ.

b. Người có NLHVDS không đầy đủ
* Quy định tại
điều 20 BLDS 2005
Người có NLHVDS không đầy đủ là người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi. Những người này không thể tự mình xác lập các giao dịch dân sự, khi thực hiện một giao dịch cần có sự đồng ý của người giám hộ, với những giao dịch đơn giản vì nhu cầu hàng ngày, những người này vẫn có thể tự thực hiện.

c. Người không có NLHVDS
* Quy định tại điều
21 BLDS 2005
- Với một đứa trẻ chưa đủ 6 tuổi, mọi giao dịch dân sự đều phải thông qua người giám hộ là cha mẹ của đứa trẻ.
- Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những chủ thể này, tránh việc lợi dụng sự non nớt của những đứa trẻ chưa đủ 6 tuổi, luật quy định mọi giao dịch của những đứa trẻ này phải thông qua người đại diện trong quá trình xác lập và thực hiện.
- Để đảm bảo quyền lợi của hai đối tượng: người có năng lực hành vi dân sự không đầy đủ và người không có năng lực hành vi dân sự thì điều 61 BLDS 2005 quy định giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên.

d. Người bị mất NLHVDS.
* Quy định tại
khoản 1 điều 22 BLDS 2005
- Một người được coi là mất NLHVDS là khi người đó đã có NLHVDS tuy nhiên qua một sự kiện nào đó khiến người đó không còn NLHVDS nữa.
- Đối với những người bị tuyên bố là mất NLHVDS phải có người đại diện theo quy định của BLDS tại K2 - Đ22, hoặc có người giám hộ đương nhiên – tại điều 62 BLDS 2005. Người giám hộ hoặc đại diện cho những người mất NLHVDS sẽ là người trực tiếp thay người mất NLHVDS xác lập hoặc thực hiện các giao dịch dân sự.
- Giám hộ đương nhiên của người mất NLHVDS –
điều 62 BLDS 2005.

e. Người bị hạn chế NLHVDS
* Quy định tại
khoản 1 điều 23 BLDS 2005
- BLDS 2005 chỉ coi những người nghiện ma túy hay các chất kích thích phá tán tài sản thì bị tuyên bố hạn chế NLHVDS và phải chịu giám hộ.
- Tuy nhiên, nhìn sang BLDS Pháp có một quy định như sau: Người thành niên do hoang phí, do lối sống vô độ hoặc do lười biếng mà rơi vào cảnh nghèo túng hoặc không đảm bảo được việc thực hiện các nghĩa vụ gia đình cũng có thể chịu sự bảo hộ của pháp luật(Điều 488 BLDS Pháp). Qua đó ta thấy BLDS Pháp mở rộng hơn so với BLDS VN về người bị hạn chế NLHVDS.

Khái niệm “con người” là chủ thể được xác định trong quan hệ pháp luật mang tính chính trị - pháp lý.
Một cá nhân để trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự phải đảm bảo có
năng lực chủ thể
tức là phải có
năng lực pháp luật

năng lực hành vi dân sự
.

Tuyên bố mất tích, tuyên bố chết
1. Tuyên bố mất tích
Khái niệm
Tuyên bố mất tích là một sự kiện pháp lý nhằm xác định một người cụ thể “ hoàn toàn không rõ tung tích, cũng không rõ còn sống hay đã chết”
Điều kiện tuyên bố mất tích
+ Đã biệt tích 2 năm liền trở lên
+ Đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự
+ Vẫn không có tin tức xác thực về người đó còn sống hay đã chết
+ Có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan đến Tòa án
Trên cơ sở đó Tòa án ra quyết định tuyên bố 1 người mất tích

Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người mất tích:
- Về tư cách chủ thể: tạm thời chấm dứt tư cách chủ thể của người bị tuyên bố mất tích.
- Về quan hệ nhân thân: nếu người vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
- Về quan hệ tài sản: người đang quản lý tài sản cho người bị tuyên bố mất tích tiếp tục quản lý tài sản đó. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích đã được Tòa án giải quyết cho ly hôn thì tài sản của người bị tuyên bố mất tích được giao cho con đã thành niên hoặc cha, mẹ của người mất tích quản lý. Nếu không có những người này thì thì giao cho người thân thích của người mất tích quản lý; nếu không có người thân thích thì Tòa án chỉ định người khác quản lý tài sản.

2. Tuyên bố chết
Là sự kiện pháp lý làm chấm dứt tư cách chủ thể của một cá nhân và cái chết phải được xác định một cách đích xác, theo quy định của pháp luật thì phải có khai tử (quy định tại Điều 30 Bộ luật Dân sự năm 2005).
Khái niệm
Điều kiện tuyên bố một người đã chết
Điều 81 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định:
“ Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong các trường hợp sau đây:
a. Sau 3 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tín tức xác thực là còn sống;
b. Biệt tích trong chiến tranh sau 5 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;
c. Bị tai nạn hoặc thảm họa thiên tai mà sau 1 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
d. Biệt tích 5 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; …”

Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người đã chết
- Về tư cách chủ thể: chấm dứt hoàn toàn.
- Về quan hệ nhân thân: được giải quyết như đối với người đã chết.
- Về quan hệ tài sản: được giải quyết như đối với người đã chết.

Tuy nhiên, cả đối với 2 trường hợp tuyên bố mất tích và tuyên bố đã chết, Bộ luật Dân sự năm 2005 còn quy định về trường hợp
hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích và hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết.
Đó là khi người bị tuyên bố mất tích, tuyên bố đã chết trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống, thì người đó, hoặc người có quyền, lợi ích liên quan
yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích hoặc quyết định tuyên bố một người đã chết.
Theo đó, tư cách chủ thể, quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản của người bị tuyên bố mất tích, tuyên bố đã chết
đều được phục hồi.
Chỉ trừ trường hợp nếu vợ, hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích, tuyên bố đã chết đã được Tòa án cho ly hôn thì quyết định ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật.

Cá nhân là chính là chủ thể tự nhiên và đầu tiên trong tất cả các mối quan hệ xã hội,
cá nhân chính là chủ thể cơ bản nhất mà luật dân sự điều chỉnh
. Người ta dùng khái niệm cá nhân để phân biệt với khái niệm pháp nhân.
Theo từ điển tiếng Việt, “
cá nhân là một con người, cá thể riêng lẻ
”. Cá nhân bao gồm: công dân, người nước ngoài, người không có quốc tịch.
1995
2013
NLPLDS là thuộc tính gắn liền với cá nhân không thể tách rời.
Quyền nhân thân gắn với tài sản và quyền nhân thân không gắn với tài sản.
Quyền sở hữu, quyền thừa kế và các quyền khác liên quan đến tài sản
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
Quyền tham gia các quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ đó.
So sánh NLPLDS và NLHVDS
Là khả năng của cá nhân (thể nhân), pháp nhân (tổ chức, cơ quan) hưởng quyền và nghĩa vụ theo luật định
Là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự
Có ngay từ thời điểm người đó sinh ra( trừ một số trường hợp đặc biệt được pháp luật quy định )
Không gắn với cá nhân từ khi sinh ra mà chỉ bắt đầu có từ 6 tuổi và phát triển và hoàn thiện phụ thuộc vào các yếu tố khác.
Khi cá nhân chết đi hoặc được TA tuyên bố đã chết dựa trên quy định của PL
Không có khái niệm chấm dứt NLHV nhưng có thể hiểu khi cá nhân chết đi thì đương nhiên cũng mất năng lực hành vi. Ngoài ra có 1 số trường hợp đặc biệt như người mất năng lực hành vi và bị hạn chế năng lực hành vi
Được ghi nhận trong bộ luật dân sự bao gồm 3 loại
- Quyền nhân thân
- Các quyền liên quan đến tài sản
- Quyền tham gia quan hệ dân sự và các nghĩa vụ liên quan

Được thể hiện trên hai khía cạnh
- Khả năng giao dịch,năng lực thực hiên các giao dịch
- Khả năng gánh chịu trách nhiệm, độc lập chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình

- Là một thuộc tính không thể tách rời đối với mỗi cá nhân.
- Không thể chuyển giao .
- Có thể tách rời cá nhân.
- NLHV Dân sự có thể được chuyển giao ủy quyền cho người khác trong những trường hợp cần thiết.
- Mọi cá nhân đều bình đẳng về năng lực pháp luật dân sự không phân biệt độ tuổi, giới tính, thành phần xã hội
- Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không thể bị hạn chế. Trừ trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định.
Dựa vào các yếu tố:
- Độ tuổi
- Trí tuệ
- Tình trạng phá tán tài sản
Pháp luật xác định 5 mức độ cá nhân về NLHVDS:
- Người có đầy đủ NLHVDS.
- Người có NLHVDS không đầy đủ.
- Người không có NLHVDS.
- Người bị mất NLHVDS.
- Người bị hạn chế NLHVDS.
Mang tính đảm bảo là điều kiện cần để một cá nhân trở thành chủ thể của QHPL.
- Là điều kiện đủ để một cá nhân trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự
- Là cấu nối giữa NLPLDS và quyền thực tế của cá nhân.
Khái niệm
Thời điểm phát sinh
Thời điểm chấm dứt
Nội dung
Khả năng chuyển giao
Mức độ năng lực
Vai trò trong việc xác định tư cách chủ thể
Full transcript