The Internet belongs to everyone. Let’s keep it that way.

Protect Net Neutrality
Loading presentation...

Present Remotely

Send the link below via email or IM

Copy

Present to your audience

Start remote presentation

  • Invited audience members will follow you as you navigate and present
  • People invited to a presentation do not need a Prezi account
  • This link expires 10 minutes after you close the presentation
  • A maximum of 30 users can follow your presentation
  • Learn more about this feature in our knowledge base article

Do you really want to delete this prezi?

Neither you, nor the coeditors you shared it with will be able to recover it again.

DeleteCancel

slide nhóm 14

:-
by

Quoc Tan

on 19 April 2013

Comments (0)

Please log in to add your comment.

Report abuse

Transcript of slide nhóm 14

BÀI THUYẾT TRÌNH NHÓM 14. CÁC CHẾ TÀI TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI Buộc thực hiện hợp đồng: (Điều 297 Luật thương mại 2005) 1. Khái niệm:
Buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh. 2.Nội dung: - Buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc triển khai tất cả các nội dung mà các bên đã cam kết trong hợp đồng . - Các bên phải hoàn thành nghĩa vụ của mình để bảo đảm quyền lợi cho phía bên kia. - Bên có nghĩa vụ chuyển giao tài sản phải thực hiện nghĩa vụ của mình . Các trường hợp: Bên vi phạm là bên bán (khoản 2 điều 297) và Bên vi phạm là bên mua (khoản 5 điều 297) II.Phạt vi phạm: (Điều 300 Luật thương mại 2005) 1.Khái niệm:
Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận, trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này. 2.Nội dung:
Mức phạt vi phạm
Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp Phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại trong trường hợp kết quả giám định sai điều 266: - Trường hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định cấp chứng thư giám định có kết quả sai do lỗi vô ý của mình thì phải trả tiền phạt cho khách hàng. Mức phạt do các bên thỏa thuận, nhưng không vượt quá mười lần thù lao dịch vụ giám định. - Trường hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định cấp chứng thư giám định có kết quả sai do lỗi cố ý của mình thì phải bồi thường thiệt hại phát sinh cho khách hàng trực tiếp yêu cầu giám định. - Khách hàng có nghĩa vụ chứng minh kết quả giám định sai và lỗi của thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định. (cc) image by nuonsolarteam on Flickr III.Bồi thường thiệt hại: (Điều 302 Luật thương mại 2005) 1.Khái niệm:
Bồi thường thiệt hại là việc là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm. 2.Nội dung:
Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm , giá trị tổn thất thực tế , trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có vị phạm Căn cứ để đòi bồi thường thiệt hại. - Có hành vi vi phạm hợp đồng. - Có thiệt hại thực tế. - Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại IV.Tạm ngừng thực hiện hợp đồng: (Điều 308 Luật thương mại 2005) 1.Khái niệm:
Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này, tạm ngừng thực hiện hợp đồng là việc một bên tạm thời không thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng thuộc một trong các trường hợp sau đây: Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để tạm ngừng thực hiện hợp đồng. Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng. 2.Nội dung: Hậu quả pháp lý - Khi hợp đồng bị tạm ngừng thực hiện thì hợp đồng vẫn còn hiệu lực. - Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật này Thông báo tạm ngừng thực hiện hợp đồng (Điều 315 Luật thương mại 2005) V.Đình chỉ thực hiện hợp đồng: (Điều 310 Luật thương mại 2005) 1.Khái niệm:
Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này, đình chỉ thực hiện hợp đồng là việc một bên chấm dứt thực hiện nghĩa vụ hợp đồng thuộc một trong các trường hợp sau đây: - Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để đình chỉ hợp đồng;
- Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng. 2.Nội dung: +Hậu quả pháp lý của việc đình chỉ hợp đồng (Điều 311 LTM2005) - Khi hợp đồng bị đình chỉ thực hiện thì hợp đồng chấm dứt từ thời điểm một bên nhận được thông báo đình chỉ. Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán hoặc thực hiện nghĩa vụ đối ứng. - Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật này. + Thông báo về đình chỉ thực hiện hợp đồng (Điều 315 LTM2005) VI.Huỷ hợp đồng: (Điều 312 Luật thương mại 2005) 1.Khái niệm:
Huỷ bỏ hợp đồng bao gồm “ hủy bỏ toàn bộ hợp đồng” và  “hủy bỏ một phần hợp đồng”.
- Hủy bỏ toàn bộ hợp đồng là việc bãi bỏ hoàn toàn việc thực hiện tất cả các nghĩa vụ hợp đồng đối với toàn bộ hợp đồng.
- Hủy bỏ một phần hợp đồng là việc bãi bỏ thực hiện một phần nghĩa vụ hợp đồng, các phần còn lại trong hợp đồng vẫn còn hiệu lực. 2.Nội dung:
- Quy định chung các trường hợp áp dụng:
Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này, chế tài hủy bỏ hợp đồng được áp dụng trong các trường hợp sau đây:
a) Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để hủy bỏ hợp đồng;
b) Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng.
- Huỷ bỏ hợp đồng trong trường hợp giao hàng, cung ứng dịch vụ từng phần      (Đ313 LTM)
-Hậu quả pháp lý của việc huỷ  bỏ hợp đồng        (Đ314 LTM) VII.Bài tập tình huống:
1.Tình huống 1:
Doanh nghiệp tư nhân cà phê Napoli ký hợp đồng bán cà phê cho quán cà phê của bà Điệp trong đó có thỏa thuận bên bán sẽ tài trợ cho bên mua một bảng hiệu hộp đèn, một tấm bạt và thay một số ghế cũ nhưng bên mua phải lấy trung bình mỗi tháng từ 30 kg cà phê trở lên và phải thực hiện trong thời hạn 2 năm, kể từ ngày 28/09/2006 đến ngày 28/09/2008.
Sau đó đôi bên phát sinh tranh chấp và Tòa phúc thẩm đã công nhận hợp đồng có hiệu lực và chịu sự điều chỉnh của Luật thương mại 2005. Tòa phúc thẩm xét rằng nguyên đơn không chứng minh được đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình là thay một số ghế cũ cho quán của bị đơn như thỏa thuận tại Điều III của hợp đồng. Tòa phúc thẩm đã căn cứ vào khoản 2 Điều 415 BLDS 2005 để kết luận bị đơn có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ của mình (là mua cà phê của nguyên đơn) cho đến khi nguyên đơn thực hiện việc thay một số ghế cũ cho bị đơn như đã thỏa thuận.
Bình luận:
Tòa phúc thẩm xác định hợp đồng này chịu sự điều chỉnh của Luật thương mại 2005 nhưng đối với quyền hoãn thực hiện hợp đồng của bên mua, Tòa phúc thẩm lại áp dụng khoản 2 Điều 415 BLDS 2005 trong khi Luật thương mại 2005 cũng có quy định về hoãn thực hiện hợp đồng và sử dụng thuật ngữ là “tạm ngừng thực hiện hợp đồng” tại điều 308 và 309. Mặc dù đều cho phép một bên không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng khi đến hạn nhưng Luật thương mại và BLDS đưa ra những điều kiện rất khác nhau. Theo Luật thương mại, một bên chỉ được tạm ngừng thực hiện phần của mình khi bên kia vi phạm cơ bản hợp đồng (khoản 2 Điều 308). Như vậy, những vi phạm nhỏ không cho phép bên bị vi phạm áp dụng biện pháp hoãn/tạm ngừng thực hiện hợp đồng. Quy định tương tự không tồn tại trong pháp luật dân sự nên vi phạm nhỏ hay vi phạm nghiêm trọng đều cho phép áp dụng việc hoãn thực hiện hợp đồng[1]. Nếu áp dụng Luật thương mại 2005 thì rất khó thừa nhận quyền hoãn của bên mua trong vụ việc được bình luận. Bởi lẽ, rất khó khẳng định việc bên bán không thay thế ghế cũ là vi phạm cơ bản hợp đồng. Ngược lại, điều kiện này không tồn tại trong pháp luật dân sự nên việc áp dụng pháp luật dân sự thuận lợi hơn cho bên muốn thực hiện quyền hoãn. 2.Tình huống 2:
Nhằm tổ chức lại hoạt động sản xuất, Công ty cổ phần Hưng Thịnh hoạt động trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp đã đặt mua 20 máy vi tính mới nhãn hiệu COMPAQ 586, giá 8 triệu đồng/chiếc, bảo hành 12 tháng của Công ty TNHH Ngọc Cường chuyên kinh doanh các mặt hàng thiết bị điện tử. Tiền hàng đã được trả ngay bằng séc chuyển khoản theo thỏa thuận.
Sau một tháng sử dụng, đã có tới 10 trong số 20 chiếc máy tính mới mua của Công ty Ngọc Cường gặp trục trặc trong vận hành. Qua kiểm tra, cán bộ chuyên môn xác định: tất cả các máy này đều là máy đã qua sử dụng được tân trang lại. Do đó, Công ty Hưng Thịnh đòi hủy hợp đồng mua bán này bằng cách trả lại hàng cho Công ty Ngọc Cường và lấy tiền về. Công ty Ngọc Cường không chấp nhận đòi hỏi này vì cho rằng bên mua là Công ty Hưng Thịnh có nghĩa vụ kiểm tra hàng hóa ngay khi nhận hàng và phải thông báo về các khiếm khuyết của hàng hóa; họ chấp nhận đổi cho Công ty Hưng Thịnh 10 chiếc máy tính bị hỏng theo điều kiện bảo hành. Vì vậy, Công ty Hưng Thịnh đã khởi kiện vụ án tới Tòa kinh tế Tòa án nhân dân tỉnh. Phán quyết của Tòa kinh tế Tòa án nhân dân tỉnh là không chấp nhận yêu cầu đòi hủy hợp đồng và chỉ buộc Công ty Ngọc Cường phải đổi cho Công ty Hưng Thịnh 10 chiếc máy tính bị hỏng. Không đồng ý với phán quyết của Toà án, Công ty Hưng Thịnh đã kháng cáo bản án sơ thẩm theo thủ tục phúc thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, Tòa án đã tuyên bố hủy bản án sơ thẩm và trả lại hồ sơ vụ án.
Hãy xem xét các khía cạnh pháp lý sau:
a. Xác định tính chất của hợp đồng trên? Giải thích vì sao?
b. Xác định hành vi vi phạm hợp đồng của bên vi phạm?
c. Chế tài thương mại nào có thể áp dụng trong trường hợp này? Vì sao?
d. Bên bán có thể thực hiện nghĩa vụ bảo hành để khắc phục hậu quả trong trường hợp trên không? Vì sao? Thank You
Full transcript