Loading presentation...

Present Remotely

Send the link below via email or IM

Copy

Present to your audience

Start remote presentation

  • Invited audience members will follow you as you navigate and present
  • People invited to a presentation do not need a Prezi account
  • This link expires 10 minutes after you close the presentation
  • A maximum of 30 users can follow your presentation
  • Learn more about this feature in our knowledge base article

Do you really want to delete this prezi?

Neither you, nor the coeditors you shared it with will be able to recover it again.

DeleteCancel

Bộ Ba Bất Khả Thi và những thay đổi trong cấu trúc t

No description
by

quyen nguyen

on 23 September 2015

Comments (0)

Please log in to add your comment.

Report abuse

Transcript of Bộ Ba Bất Khả Thi và những thay đổi trong cấu trúc t

Bộ Ba Bất Khả Thi và những thay đổi trong cấu trúc tài chính Quốc tế
I. Lý thuyết bộ ba bất khả thi
II. Dự trữ ngoại hối và bộ ba bất khả thi ở các nước đang phát triển
III. Thước đo của bộ ba bất khả thi
IV. Liên kết dự trữ ngoại hối và bộ ba bất khả thi
V. Thay đổi trong cấu trúc tài chính quốc tế dưới góc nhìn của bộ ba bất khả thi
VI. Bộ ba bất khả thi đã thay đổi như thế nào sau mỗi cuộc khủng hoảng?
VII. Những lựa chọn chính sách của bộ ba bất khả thi

I. LÝ THUYẾT BỘ BA BẤT KHẢ THI:
Bộ ba bất khả thi là lý thuyết rất phổ biến trong kinh tế được phát triển bởi Robert Mundell và Marcus Fleming vào thập niên 1960.
Bộ ba bất khả thi có thể phát biểu như một định đề: một quốc gia không thể đồng thời đạt được tỷ giá cố định, hội nhập tài chính và độc lập tiền tệ.

Ổn định tỷ giá và hội nhập tài chính được kết hợp bằng cách lựa chọn chế độ tỷ giá cố định nhưng phải từ bỏ độc lập tiền tệ.
Độc lập tiền tệ và hội nhập tài chính được kết hợp bằng cách lứa chọn chết độ tỷ giá thả nổi nhưng phải từ bỏ mục tiêu ổn định tỷ giá.
Ổn định tỷ giá và độc lập tiền tệ được kết hợp bằng cách lựa chọn thị trường vốn đóng.
Kể từ khi vận hành theo chế độ bản vị vàng, nhiều kiểu hệ thống tài chính quốc tế khác nhau đã được thiết kế để đạt 2 trong số 3 mục tiêu chính sách.
Một thông điệp chính của lý thuyết bộ ba bất khả thi là sự thiếu hụt các công cụ trong quản lý kinh tế vĩ mô. Sự thiếu hụt này do chính phủ buộc phải đối mặt với một sự đánh đổi.
Ví dụ:
Nếu chính phủ muốn hội nhập tài chính sâu hơn, buộc phải giảm trung bình tỷ trọng của 2 mục tiêu còn lại (ổn định tỷ giá ít hơn, hoặc tiền tệ độc lập ít hơn hoặc kết hợp cả 2).
Cách tiếp cận bộ ba bất khả thi như trên gọi là cách tiếp cận trung gian chứ không phải tiếp cận theo 3 đỉnh của tam giác.
Độc lập tiền tệ giúp cho chính phủ chủ động sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ để thực hiện chính sách phản chu kỳ kinh tế.


Chẳng hạn: nếu nền kinh tế có dấu hiệu phát triển nóng, chính phủ sẽ tăng lãi suất hoặc thắt chặt cung tiền, và ngược lại.
Chính vì sự độc lập tiền tệ này mà nhiều nhà kinh tế tin rằng chúng sẽ giúp nền kinh tế tăng trưởng ổn định hơn.
Độc lập tiền tệ nhiều hơn
Bất ổn định trong tăng trưởng và tiềm ẩn nguy cơ lạm phát cao.
Hậu quả là nền kinh tế rơi vào mất ổn định với tình trạng cho thâm hụt ngân sách, rơi vào mất ổn định với tình trạng lạm phát 2 con số chí siêu lạm phát
Ổn định tỷ giá giúp cho tạo ra cái neo danh nghĩ để chính phủ tiến hành các biện pháp ổn định giá cả.
Nhưng tỷ giá quá ổn định làm cho chính phủ mất đi một cộng sự để hấp thu các cú sốc bên trong và bên ngoài truyền dẫn vào kinh tế.
Ví dụ:
Lạm phát cao trong nước mà tỷ giá gần như cố định dễ dẫn đến nguy cơ hàng hóa mất sức cạnh tranh trên thị trường thế giới, hậu quả là xuất khẩu giảm và nhập khẩu tăng lên.
Hội nhập tài chính tất nhiên là xu thế khó có thể cưỡng lại được trong bối cảnh toàn cầu hóa. Lợi ích của hội nhập tài chính đến từ 2 mặt:
hữu hình và vô hình.
Hội nhập tài chính còn giúp giải quyết được phần nào vấn đề mất cân xứng thông tin do từ doanh nghiệp đến chính phủ phải minh bạch thông tin nếu muốn thu hút đầu tư nhiều hơn.
II. DỰ TRỮ NGOẠI HỐI VÀ BỘ BA BẤT KHẢ THI Ở CÁC NƯỚC PHÁT TRIỂN:
Do xu thế hội nhập tài chính diễn ra ngày càng sâu rộng ở các nước đang phát triển cho thấy dự trữ ngoại hối đóng vai trò quan trọng trong mẫu hình
bộ ba bất khả thi
, nhất là tại các nước đang phát triển.
Dự trữ ngoại hối ở các nước đang phát triển nhìn chung gia tăng khá ấn tượng, dự trữ ngoại hối toàn cầu tăng từ 1 nghìn đô lên đến 5 nghìn đô trong giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2006.
Gần đây các nước đang phát triển nắm giữ
3/4
dự trữ ngoại hối toàn cầu.

Phần lớn tập trung ở Châu Á - nơi có dự trữ ngoại hối tăng từ
5% năm 1980
đến
37% năm 2006
.

Đương nhiên
Trung Quốc
là quốc gia dự trữ ngoại hối ấn tượng nhất với tỷ lệ dự trữ ngoại hối trên GDP từ khoảng
1% năm 1980
lên khoảng
41% vào năm 2006.
Dự trữ ngoại hối gia tăng một phần do chính phủ các nước đang phát triển phải đối phó với dòng vốn mang xu hướng đầu cơ.
Chính vì tầm quan trọng tăng của hội nhập tài chính như là một nhân tố quyết định đối với dự trữ ngoại hối.



Các nhà kinh tế đã bắt đầu nghiên cứu sâu hơn về mối liên kết giữa những thây đổi trong cấu trúc của bộ ba bất khả thi và mức độ dự trữ ngoại tệ.
III. THƯỚC ĐO CỦA BỘ BA BẤT KHẢ THI:
Tỷ giá - dễ đo lường nhất.
Độc lập tiền tệ.
Hội nhập tài chính - khó đo lường nhất.
3 yếu tố của bộ ba bất khả thi:
ĐỘC LẬP TIỀN TỆ (MI):
Chỉ số mức độ độc lập tiền tệ được xác định bằng:
ỔN ĐỊNH TỶ GIÁ (ERS):
Độ ổn định tỷ giá nằm giữa giá trị 1 và 0, càng tiến về 1 tỷ giá càng ổn định.
HỘI NHẬP TÀI CHÍNH (KAOPEN):
Trong các chỉ số đo lường bộ ba bất khả thi, khó nhất là đo lường hội nhập tài chính, chúng ta phải đo lường mức độ mà một quốc gia tiến hành kiểm soát vốn. Tuy nhiên việc đo lường mức độ kiểm soát vốn rất phức tạp vì rất khó để phản ánh hết những phức tạp trong thực tế.
IV. LIÊN KẾT DỰ TRỮ NGOẠI HỐI VÀ BỘ BA BẤT KHẢ THI:
Những thay đổi trong cấu trúc của bộ ba bất khả thi và mức độ dự trữ ngoại hối có mối liên kết với nhau.
Aizenman, Chinn và Ito (2008) đã triển khai một dạng đồ thị hình kim cương để đo lường độc lập tiền tệ, ổn định tỉ giá, dự trữ ngoại hối và hội nhập tài chính của mỗi quốc gia.
V. THAY ĐỔI TRONG CẤU TRÚC TÀI CHÍNH QUỐC TẾ DƯỚI GÓC NHÌN CỦA BỘ BA BẤT KHẢ THI
Các quốc gia công nghiệp ngày càng tăng tốc tự do hóa tài chính và hướng tới ổn định tỷ giá (chủ yếu ở các quốc gia sử dụng đồng Euro)
Đồng thời cũng làm sáng tỏ sự thật là các nền kinh tế mới nổi đã hướng tới tỉ giá linh hoạt cao hơn và hội nhập tài chính sâu hơn.
Điều đáng lưu ý đối với các nền kinh tế mới nổi là bên cạnh hội nhập tài chính sâu hơn, tỉ giá linh hoạt hơn, thì dự trữ ngoại hối cũng được tích lũy nhiều hơn. Ngược lại, các quốc gia công nghiệp hóa lại ngày càng giảm đi dự trữ ngoại hối của mình.
VI. BỘ BA BẤT KHẢ THI ĐÃ THAY ĐỔI NHƯ THẾ NÀO SAU MỖI CUỘC KHỦNG HOẢNG???
Có nhiều cuộc khủng hoảng làm cho các quốc gia phải thay đổi những lựa chọn chính sách của mình.
Sự đổ vỡ của hệ thống Bretton Woods (1973):
Chỉ số ổn định tỷ giá của các nước CN hóa giảm đáng kể, mức độ hội nhập tài chính tăng nhẹ.
Cuộc khủng hoảng nợ Mexico (1982):
Các nước CNhóa tiếp tục gia tăng tính linh hoạt tỷ giá và mở cửa tài chính
Khủng hoảng tài chính Châu Á (1997):
Mức độ độc lập tiền tệ của các nước CN hóa đã giảm nghiêm trọng, trong khi tỷ giá thì ổn định hơn.
Khủng hoảng tài chính toàn cầu (2007) và sự trỗi dậy của Trung Quốc.
Làm cho cấu trúc bộ ba bất khả thi thay đổi.
Lúc bấy giờ hội nhập tài chính phải trả giá. Các khái niệm như
“ chiến tranh tiền tệ”
,
“ bảo hộ mậu dịch”
dường như đang ngày càng xuất hiện với tần suất nhiều hơn trong ngôn ngữ giữa các cường quốc kinh tế như Mỹ, Trung Quốc, Nhật và EU.
Sự trỗi dậy của Trung Quốc
cũng là một sự kiện mà nhiều nhà kinh tế quan tâm.

Với tư cách là công xưởng của thế giới và việc Trung Quốc tích lũy một lượng dữ trữ ngoại hối khổng lồ
Thúc đẩy các nước, nhất là cách nước đang phát triển phải có những điều chỉnh tương thích trong mẫu hình của bộ ba bất khả thi.
VII. NHỮNG LỰA CHỌN CHÍNH SÁCH CỦA BỘ BA BẤT KHẢ THI:

(1) Tỷ giá cố định và hội nhập tài chính.
(2) Tỷ giá thả nổi và hội nhập tài chính.
(3) Chế độ trung gian.

Có 3 lựa chọn chính sách cơ bản của bộ ba bất khả thi là:
Full transcript